Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phương pháp tính giá trên cơ sở hoạt động Chương 2: Thực trạng công tác tính giá thành tại công ty Wanek Furniture Chương 3: Vận dụng phương pháp tính giá ABC tại Công ty Wanek Furniture và đề xuất một số giải pháp để áp dụng phương pháp ABC tại Công ty. Kết luận Tài liệu tham khảo 123doc 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHƢƠNG PHÁP TÍNH GIÁ DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG (ABC) 1.1 Khái quát về phƣơng pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) 1.1 Khái niệm phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) Vào những năm 1980, người ta đã bắt đầu nhận thấy những hạn chế của hệ thống chi phí truyền thống, mặc dù hệ thống này đã được ứng dụng rộng rãi trong những thập niên trước đó khi mà các loại sản phẩm sản xuất ra còn hạn chế, chi phí nhân công trực tiếp và nguyên vật liệu trực tiếp chiếm phần lớn trong tổng chi phí sản xuất, chi phí gián tiếp liên quan đến quản lý và phục vụ sản xuất thì lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Vì vậy việc sai lệch từ việc phân bổ chi phí quản lý dựa trên một tiêu thức đơn giản như sản lượng sản xuất, số giờ lao động,…theo hệ thống chi phí truyền thống lúc bấy giờ được xem là không đáng kể. Sau những năm 1980, những thách thức bắt đầu đặt ra cho việc tính toán và áp dụng những hệ thống thông tin chi phí mới.
Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, dây chuyền sản xuất tự động đã trở nên phổ biến, nhiều loại sản phẩm được sản xuất ra hàng loạt, chi phí lao động chiếm tỷ trọng ngày càng nhỏ trong tổng chi phí sản xuất, trong khi chi phí quản lý và phục vụ sản xuất tăng dần và chiếm tỷ trọng đáng kể, việc phân bổ chi phí gián tiếp dựa trên tiêu thức phân bổ giản đơn trở nên không còn phù hợp. Các nhà chuyên môn, các tổ chức bắt đầu triển khai phương pháp tiếp cận mới đối với các thông tin về chi phí. Robin Cooper, Robert Kaplan và H.Thomas Johnson chính là những người đầu tiên đưa ra phương pháp ABC. Trên thực tế nhiều nguồn lực của doanh nghiệp không chỉ phục vụ cho việc cấu thành nên yếu tố vật chất của sản phẩm mà còn cung cấp nhiều hoạt động hỗ trợ để đưa ra các sản phẩm, dịch vụ đến với khách 123doc 5 hàng.
Mục tiêu của phương pháp ABC không phải là phân bổ chi phí chung cho các sản phẩm mà mục tiêu của ABC là đo lường và tính giá tất cả các nguồn lực sử dụng cho các hoạt động mà có thể hỗ trợ cho việc sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng. Theo Deepak Mohan & Hemantkumar Patil (2003) thì ABC là một mô hình chi phí để đo lường chi phí hoạt động, kết quả, các nguồn lực và các đối tượng chi phí. ABC gán nguồn lực cho các hoạt động, các hoạt động đối tượng chi phí theo tiêu thụ thực tế và công nhận mối quan hệ nhân quả của các trình điều khiển chi phí với hoạt động, ABC tập trung nhiều hơn về chi phí và nguyên nhân dựa vào quá trình và các hoạt động chứ không phải là về các phòng ban và các chức năng truyền thống [16]. Nguyen Thanh Hoa (2010) cho rằng phương pháp ABC là sự cải tiến của phương pháp tính giá truyền thống bằng việc tập trung vào các hoạt động cụ thể như là các đối tượng chi phí cơ bản.
Một hoạt động có thể là một sự kiện, một hành động và phân bổ chi phí cho từng sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên hoạt động được tiêu dùng bởi sản phẩm hay dịch vụ đó [16]. Như vậy, mỗi học giả có một khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động là phương pháp tính giá khắc phục được những nhược điểm của phương pháp tính giá truyền thống. Ngoài ra, phương pháp này còn là một công cụ quản lý chi phí chiến lược, giúp doanh nghiệp xác định hoạt động nào tạo ra giá trị, hoạt động nào không tạo ra giá trị, từ đó không ngừng cải tiến quá trình kinh doanh nhằm hạ giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Tóm lại, ABC là một hệ thống đo lường chi phí, tập hợp và phân bổ chi phí của các nguồn lực vào các hoạt động dựa trên mức độ sử dụng các nguồn lực, sau đó chi phí của các hoạt động được phân bổ đến các đối tượng tính giá dựa trên mức độ sử dụng của chúng.2 Đặc điểm của phương pháp ABC Đây là một phương pháp tính chi phí được sử dụng để tính thẳng chi phí chung vào các đối tượng chịu chi phí.
Những đối tượng này có thể là sản phẩm, dịch vụ, quá trình hoặc khách hàng… Phương pháp ABC cũng giúp cho nhà quản lý ra được những quyết định đúng với cơ cấu sản phẩm và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp mình. Về cơ bản phương pháp ABC khác với phương pháp truyền thống ở hai điểm. Thứ nhất, giá thành sản phẩm theo phương pháp ABC bao gồm toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ, kể cả các chi phí gián tiếp như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Thứ hai, phương pháp ABC phân bổ chi phí phát sinh vào giá thành mỗi sản phẩm dựa trên mức chi phí thực tế cho mỗi hoạt động và mức độ đóng góp của mỗi hoạt động vào quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Nói cách khác, phương pháp ABC phân bổ chi phí vào giá thành sản phẩm dựa trên mối quan hệ nhân quả giữa chi phí – hoạt động – sản phẩm. Kết quả là giá thành sản phẩm phản ánh chính xác hơn mức chi phí thực tế kết tinh trong mỗi đơn vị sản phẩm.3 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) Nguồn lực Nguồn lực là các yếu tố kinh tế được cung cấp và sử dụng để thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp (Hilton, 2011) [19]. Ví dụ: nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, lao động, máy móc thiết bị là các nguồn lực chủ yếu để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Nguồn lực có thể được phân thành hai loại chủ yếu: các nguồn lực biến đổi và các nguồn lực cố định.
Hoạt động Hoạt động là một quy trình, chức năng hoặc công việc xử lý đầu vào hay sản xuất đầu ra (Hilton, 2011) [19]. Nói cách khác, một hoạt động là sự biến đổi những yếu tố đầu vào thành những sản phẩm đầu ra được thực hiện bằng những cách thức nằm trong sự kiểm soát của đơn vị. Ví dụ: hoạt động xử lý đơn đặt hàng, 123doc 7 hoạt động vận chuyển nguyên vật liệu từ kho đến nơi sản xuất. Nguồn sinh phí Nguồn sinh phí là một nhân tố, một khía cạnh của hoạt động có thể định lượng được và gây ra sự phát sinh chi phí.
Một hoạt động có thể được xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau nhưng chỉ những khía cạnh này gây ra sự phát sinh chi phí và có thể định lượng được mới có thể được coi là nguồn phát sinh chi phí (Hilton, 2011) [19]. Đối tượng tính giá Đối tượng tính giá thường rất đa dạng và tuỳ thuộc vào nhu cầu thông tin của nhà quản trị mà người thiết kế hệ thống sẽ thiết lập các đối tượng tính giá khác nhau. Một số đối tượng tính giá điển hình là : Sản phẩm, dịch vụ, lô sản phẩm, hợp đồng, công việc, dự án, nhóm khách hàng, kênh phân phối…(Hilton, 2011) [19]. Tiêu thức phân bổ chi phí nguồn lực Tiêu thức phân bổ chi phí nguồn lực là yếu tố đo lường sự tiêu hao nguồn lực cho các hoạt động (Sakesun Suthummanon (2011) [20].
Nếu nguồn lực là con người, những người này tiêu tốn thời gian cho những hoạt động khác nhau, khi đó tỷ lệ thời gian tương ứng tiêu tốn cho mỗi hoạt động sẽ là tiêu thức phân bổ chi phí nguồn lực. Tiêu thức phân bổ chi phí hoạt động Tiêu thức phân bổ này là cầu nối giữa các hoạt động và các đối tượng tính giá, đo lường sản phẩm, dịch vụ…là yếu tố dùng để đo lường sự tiêu hao của hoạt động cho các đối tượng tính giá, được tạo ra trong mỗi hoạt động (Sakesun Suthummanon (2011) [20]. Theo Boris Popesko (2010) [9] tiêu thức phân bổ chi phí hoạt động phải là yếu tố có thể truy vết một cách đáng kể để xác định chi phí tiêu tốn cho hoạt động đó. Tiêu thức phân bổ thường là những yếu tố chỉ ra nguyên nhân của việc tiêu tốn chi phí cho các hoạt động và thường có 3 dạng sau: - Phân bổ giao dịch (số lượng các giao dịch).
- Phân bổ thời gian (khoảng thời gian cần thiết để thực hiện hoạt động). 123doc 8 - Phân bổ mức độ (liên quan trực tiếp đến nguồn tiêu tốn của các hoạt động). Tiêu thức phân bổ có thể được xác định tương tự như phương pháp phân chia tỷ lệ trong phương pháp truyền thống trong trường hợp chi phí các hoạt động phân bổ theo thời gian. Một yêu cầu quan trọng trong viêc xác định tiêu thức phân bổ là khả năng doanh nghiệp có thể đo lường được tiêu thức và định lượng được mức tiêu hao theo tiêu thức này.
Đôi khi tiêu thức phân bổ được xác định theo cách “xác định mức biến động chi phí”, điều này có nghĩa là nếu số lượng hoạt động của doanh nghiệp giảm thì tổng chi phí của hoạt động cũng giảm. Trong một số trường hợp thì phân tích hồi quy và tương quan cũng có thể được sử dụng để xác định tiêu thức phân bổ. Trường hợp hiếm gặp là tiêu thức này cũng được phân bổ theo hệ số cố định của một đặc tính nào đó. Đôi khi nó chỉ đơn giản là đo lường mức phân bổ các chi phí.
Narcyz Roztocki (1999) [15] chỉ ra rằng, khi một hoạt động chính được xác định, tổng chi phí của hoạt động cần được tính toán. Phân loại các loại chi phí liên quan đến hoạt động và xác định tiêu thức phân bổ dựa trên từng loại chi phí này, chẳng hạn như hoạt động chuẩn bị báo giá liên quan đến chi phí tiền lương, chi phí thuê văn phòng, khách hàng. Trong trường hợp này, chi phí thuê văn phòng sẽ phân bổ theo diện tích chiếm giữ, trong khi chi phí tiền lương sẽ phân bố theo thời gian mà nhân viên tiêu tốn cho hoạt động chuẩn bị báo giá này.2 Trình tự thực hiện phƣơng pháp ABC Hình 1.