CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất a) Khái niệm Chi phí Chi phí là một khái niệm rộng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh vực kế toán có một số khái niệm về chi phí như sau: Trên góc độ của người làm kế toán trong doanh nghiệp, theo tác giả Phạm Văn Dược (2007) “chi phí có thể được hiểu là giá trị của một nguồn lực bị tiêu dùng trong sản xuất kinh doanh của một tổ chức để đạt được mục đích nào đó” [trang 48].
Xem dưới góc độ kế toán tài chính, theo mục 31 chuẩn mực kế toán số 01 chuẩn mực chung “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Xem dưới góc độ kế toán quản trị “chi phí có thể là những phí tổn thực tế phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh được tổng hợp theo từng bộ phận, từng trung tâm chi phí cũng như xác định giá trị hàng tồn kho trong từng khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ” (trang 43, giáo trình kế toán quản trị, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân,2014) Chi phí sản xuất Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải bỏ ra các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa cho kinh doanh của mình, chi phí bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh được gọi là chi phí sản xuất. Theo giáo trình Kế toán quản trị của trường Đại Học Thương Mại (2005): “Chi phí sản xuất là nhưng khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng (bộ phận) sản xuất gắn liền với các hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của doanh nghiệp”. 8 Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí liên quan đến việc sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định (Trang 23, giáo trình kế toán quản trị, Trường Đại học Kinh tế TP.
Hồ Chí Minh, 2013). Chi phí sản xuất là toàn bộ các chi phí có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm, dịch vụ trong thời kỳ nhất định. Vậy chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần tiết khác mà doanh nghiệp chỉ ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ. b) Phân loại chi phí sản xuất Hoạt động của một doanh nghiệp sản xuất gắn liền với sự kiện kinh tế mà ở đó các khoản thu nhập được sinh ra thường có nguồn gốc từ một khoản chi phí nhất định.
Giảm thiểu tối đa chi phí luôn là mục tiêu của các kế hoạch sản xuất kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất. Vì vậy để phục vụ cho việc quản lý chi phí và các quyết định kinh doanh có hiệu quả thì cần nhận diện chi phí trên nhiều góc độ khác nhau. Mỗi cách phân loại chi phí sẽ cung cấp nhưng thông tin cần thiết và phù hợp với mục đích nhất định. Phân loại theo chức năng và công dụng của chi phí: Theo chức năng và công dụng, chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành 03 khoản mục: Chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ các chi phí nguyên liệu, vật liệu chính, nhiên liệu được sử dụng trực tiếp để sản xuất, chế tạo sản phẩm, cung cấp dịch vụ.
Chi phí NVLTT thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá thành sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được hạch toán trực tiếp vào từng loại sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp thường khó xác định tách bạch riêng cho từng loại sản phẩm, vì vậy chúng thường được tập hợp chung, đến cuối kỳ kế toán sẽ được tiến hành phân bổ theo tiêu thức phù hợp. - Chi phí nhân công trực tiếp: Là chi phí phải trả về tiền lương, tiền công, phụ cấp lương và các khoản trích theo lương của người lao động trực tiếp tham gia 9 vào quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ.
Chi phí nhân công trực tiếp có thể nhận diện cho từng đối tượng chịu chi phí dựa trên định mức hao phí lao động. Trong trường hợp cùng một qui trình công nghệ sản xuất lại chế tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau thì để hạch toán khoản mục chi phí này cho từng loại sản phẩm, kế toán cũng phải tiến hành phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức phù hợp. Chỉ hạch toán vào chi phí nhân công trực tiếp những khoản phải trả cho người lao động trực tiếp trong khoảng thời gian người lao động tham gia chế tạo sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ. Không hạch toán vào chi phí nhân công trực tiếp những khoản phải trả cho người lao động trực tiếp trong khoảng thời gian ngừng sản xuất vì lý do khách quan (thiết bị hỏng, hết nguyên vật liệu…), thời gian người lao động phải làm thêm giờ ngoài định mức.
- Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí liên quan đến việc quản lý sản xuất và phục vụ sản xuất tại phân xưởng. Chi phí sản xuất chung là tất cả các khoản chi phí sản xuất phát sinh tại phân xưởng sản xuất nhưng không bao gồm chi phí NVLTT và NCTT bao gồm các khoản chi phí: chi phí nguyên vật liệu dùng cho quản lý phân xưởng, chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng trong sản xuất và quản lý sản xuất, chi phí CCDC dùng trong sản xuất, chi phí sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị, chi phí bằng tiền khác. Chi phí sản xuất chung là một khoản mục chi phí phức tạp bao gồm nhiều yếu tố chi phí có đặc điểm, tính chất biến đổi khác nhau. Đây là khoản mục chi phí khó định lượng khó xây dựng định mức nên trong quản lý khoản mục chi phí sản xuất chung cần được kiểm soát chặt chẽ.
Ngoài việc phân chia chi phí sản xuất theo công dụng như trên, để quản lý và kiểm soát chi phí sản xuất theo quá trình, kế toán quản trị còn nhận diện chi phí sản xuất bao gồm chi phí ban đầu và chi phí chuyển đổi. Chi phí ban đầu: Là sự kết hợp giữa chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Chi phí ban đầu phản ánh mức chi phí đầu tiên, cơ bản cấu thành nên sản phẩm, có thể tính riêng biệt và cụ thể cho từng đơn vị sản phẩm. Do 10 đó, chi phí ban đầu được sử dụng làm cơ sở để lập định mức chi phí cơ bản cần thiết để sản xuất sản phẩm.
Chi phí chuyển đổi: Là sự kết hợp giữa chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Chi phí này phản ánh mức chi phí cần thiết để chuyển đổi vật liệu sang dạng thành phẩm, được sử dụng làm cơ sở lập định mức chi phí cần thiết để chế biến 1 lượng nguyên vật liệu nhất định thành thành phẩm. Phân loại dựa trên chức năng công dụng của chi phí là cơ sở để tập hợp chi phí và xác định giá thành sản phẩm, đồng thời cung cấp thông tin cho hệ thống cho việc lập báo cáo tài chính… Qua đó có một cái nhìn tổng thể cũng như có thể đưa ra giải pháp làm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, làm tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân loại theo cách ứng xử của chi phí sản xuất: Theo cách ứng xử chi phí, chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia làm 03 khoản mục: Biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp: - Biến phí (chi phí khả biến – chi phí biến đổi) là các khoản chi phí thường tỷ lệ với mức độ hoạt động”.
Trong doanh nghiệp sản xuất, biến phí thể hiện như chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí năng lượng, hoa hồng bán hàng… Khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp tăng giảm thì tổng biến phí cũng thay đổi. Thông thường biến phí của một đơn vị hoạt động thì không đổi. Không phải tất cả mọi khoản biến phí điều có ứng xử như nhau đối với thay đổi của mức độ hoạt động. Ví dụ như xét trên một đơn vị hoạt động thì một sản phẩm, giờ công… thì chúng lại không thay đổi.
- Định phí (chi phí bất biến – chi phí cố định) là những chi phí không thay đổi trong phạm vi giới hạn của quy mô hoạt động. Định phí phổ biển trong hoạt động sản xuất kinh doanh như chi phí khấu hao, chi phí thuê nhà xưởng, chi phí quảng cáo, lương nhân viên… những chi phí này luôn tồn tại và định phí không thay đổi nhưng nếu xem xét chúng trên 01 đơn vị hoạt động thì định phí tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động. - Chi phí hỗn hợp là loại chi phí bao gồm cả các yếu tố của định phí và biến phí. Ở một mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện là định phí, 11 khi vượt mức độ căn bản, chi phí hỗn hợp bao gồm cả biến phí.
Chi phí hỗn hợp trong doanh nghiệp sản xuất như chi phí điện thoại, Fax, chi phí thuê phương tiện vận chuyển tính giá thuê cố định và tính giá thuê theo quãng đường vận chuyển thực tế.Phần định phí trong chi phí hỗn hợp phản ánh mức chi tiêu tối thiểu cần thiết để duy trì một dịch vụ ở trong trạng thái sẵn sàng sử dụng. Biến phí phản ánh chi phí do mức tiêu thụ thực tế của dịch vụ. Việc phân loại chi phí thành định phí và biến phí và chi phí hỗn hợp tuỳ thuộc vào quan điểm nhìn nhận của từng nhà quản trị trong mục tiêu sử dụng cụ thể. KTTC không phân chia chi phí theo tiêu thức này nhưng nó lại rất cần thiết cho KTQT, giúp nhà quản trị có cách nhìn nhận chi phí, sản lượng và lợi nhuận để có quyết định quản lý phù hợp về số lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, về giá bán sản phẩm trong từng giai đoạn cụ thể về việc nhận đơn đặt hàng mới với giá thấp hơn giá đang bán.