CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản trị chi phí trong doanh nghiệp 1. Chi phí trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm chi phí “Mọi sự tiêu phí tính bằng tiền của một doanh nghiệp được gọi là chi phí” hay “Chi phí là một khái niệm của kế toán, có chi phí giới hạn trong xí nghiệp, gắn với các mục tiêu của xí nghiệp và chi phí ngoài xí nghiệp, có cơ sở ở các hoạt động khác hoặc các nguyên nhân khác” [2, tr. Chi phí kinh doanh là sự tiêu phí giá trị cần thiết có tính chất xí nghiệp về vật phẩm và dịch vụ để sản xuất ra sản phẩm của xí nghiệp. Khái niệm chi phí kinh doanh mang 3 đặc trưng sau [2, tr.2]: - Chi phí kinh doanh phải là sự hao phí vật phẩm và dịch vụ gắn với một thời kỳ tính toán cụ thể. - Sự hao phí vật phẩm và dịch vụ phải gắn liền với kết quả của kỳ tính tính toán do sự hao phí đó gây ra.
- Những hao phí vật phẩm và dịch vụ liên quan đến kết quả của doanh nghiệp phải được đánh giá theo nguyên lý của kế toán tài chính và tính toán theo các nguyên lý của tính chi phí kinh doanh. Chi phí kinh doanh là một phạm trù gắn liền với chi phí và chỉ xuất hiện ở tính chi phí kinh doanh, do đó chi phí kinh doanh khác với chi phí tài chính cả về nội dung và độ lớn [2, tr. Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định [2, tr. Phân loại chi phí a) Theo yếu tố chi phí - Chi phí nguyên vật liệu 6 - Chi phí nhiên liệu: xăng, dầu, nhớt.
- Chi phí động lực: điện, nước. - Chi phí tiền lương: tiền lương chính và phụ (lương nghỉ phép, nghỉ lễ…) - Các khoản trích nộp bảo hiểm, kinh phí công đoàn - Chi phí khấu hao TSCĐ - Chi phí dịch vụ mua ngoài: thuê lao công dọn dẹp vệ sinh, cước bưu chính viễn thông. - Các chi phí khác bằng tiền: là các khoản thuế, phí, lệ phí, các khoản chi phí khác không thuộc những chi phí trên. Ý nghĩa: làm cơ sở để lập dự toán chi phí sản xuất theo kế hoạch, đảm bảo cho kế hoạch giá thành sản phẩm phù hợp với các kế hoạch khác như kế hoạch cung cấp vật tư kỹ thuật, kế hoạch lao động, tiền lương,.
từ đó sẽ định hướng trọng điểm trong công tác quản lý chi phí của doanh nghiệp. Cách phân loại này đảm bảo tính thống nhất danh mục chi phí giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành và giữa các ngành trong toàn bộ nền kinh tế, thuận lợi cho việc quản lý của Nhà nước, đồng thời thông qua kết cấu chi phí, có thể xác định kết cấu giá trị lao động sống và lao động quá khứ kết tinh trong sản phẩm. Tuy nhiên, phân loại theo yếu tố chi phí không làm rõ công dụng và địa điểm bỏ chi phí, khó phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giá thành và khó tìm biện pháp hạ giá thành sản phẩm [2, tr. b) Theo khoản mục (công dụng kinh tế và địa điểm) - Chi phí vật tư trực tiếp: Là các khoản chi phí nguyên, nhiên vật liệu được xuất dùng trực tiếp để sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp trong kỳ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm các khoản tiền lương trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm (tiền lương chính, phụ, các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương) và các khoản đóng góp như quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ do chủ sử dụng lao động chịu và được tính vào chi phí kinh doanh theo tỷ lệ quy định với số tiền lương phát sinh của công nhân. 7 - Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí cần thiết cho việc sản xuất sản phẩm như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí ngoài sản xuất. Chi phí sản xuất chung (CPSXC) có ba đặc điểm sau: + được nhiều bộ phận khác nhau quản lý do CPSXC gồm nhiều khoản mục chi phí khác nhau, dẫn đến rất khó kiểm soát. + không thể tính thẳng vào sản phẩm hay dịch vụ cung cấp do có tính chất gián tiếp với từng đơn vị sản phẩm.
+ Cơ cấu CPSXC bao gồm cả định phí, biến phí và chi phí hỗn hợp, trong đó định phí thường chiếm tỷ trọng cao nhất. - Chi phí bán hàng: Là những chi phí cần thiết để phục vụ cho công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp như tiền lương nhân viên bán hàng, chi phí quảng cáo. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những chi phí cần thiết để phục vụ cho công tác quản lý của doanh nghiệp và của phân xưởng. Cách phân loại này là căn cứ khoa học để doanh nghiệp tính giá thành sản phẩm, từ đó xác định kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; dùng để kiểm tra việc bỏ chi phí theo từng khoản mục đối với từng bộ phận, từng phân xưởng sản xuất; xác định kết cấu giá thành theo khoản mục và giúp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp; đồng thời thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế [2, tr.
c) Theo cách ứng xử của chi phí * Chi phí biến đổi (biến phí, chi phí khả biến): Là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với sự biến động của mức độ hoạt động như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp… Như vậy, biến phí có hai đặc điểm: + Tổng biến phí thay đổi khi mức độ hoạt động (sản lượng) thay đổi. + Biến phí đơn vị giữ nguyên không đổi khi mức độ hoạt động (sản lượng) thay đổi. Biến phí gồm: biến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc 8 * Chi phí cố định (định phí, chi phí bất biến): Là các khoản chi phí không thay đổi khi có sự thay đổi của mức độ hoạt động trong phạm vi phù hợp như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí quản lý… Như vậy, định phí có hai đặc điểm: + Tổng định phí giữ nguyên khi mức độ hoạt động (sản lượng) thay đổi trong phạm vi phù hợp. + Định phí trên 1 đơn vị sản phẩm thay đổi khi mức độ hoạt động (sản lượng) thay đổi.
Định phí gồm: định phí tùy ý và định phí bắt buộc * Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả biến phí và định phí. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định phí, quá mức độ đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí [2, tr. d) Theo nguồn chi phí phát sinh - Chi phí ban đầu: Là sự kết hợp giữa chi phí nguyên liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp, có tác dụng phản ánh mức chi phí đầu tiên, chủ yếu của sản phẩm, đồng thời phản ánh mức chi phí riêng biệt, cụ thể từng đơn vị sản phẩm mà ta nhận diện ngay trong tiến trình sản xuất, và là cơ sở lập kế hoạch về lượng chi phí chủ yếu cần thiết nếu muốn sản xuất sản phẩm đó [2, tr. - Chi phí chuyển đổi: Là sự kết hợp giữa chi phí nhân công trực tiếp với chi phí sản xuất chung, có tác dụng phản ánh mức chi phí cần thiết để chuyển đổi nguyên liệu từ dạng thô sang dạng thành phẩm, và là cơ sở để lập kế hoạch về lượng chi phí cần thiết để chế biến một lượng nguyên liệu nhất định thành thành phẩm [2, tr.
e) Theo hình thức tính chi phí vào kết quả - Chi phí trực tiếp: Là chi phí tự bản thân nó được chuyển vào một bộ phận do có mối quan hệ thực sự chặt chẽ giữa chi phí đó và bộ phận làm phát sinh ra nó hay nói cách khác, chi phí trực tiếp là những chi phí phát sinh một cách riêng biệt cho một hoạt động cụ thể của doanh nghiệp (một sản phẩm, một dịch vụ): chi phí nguyên liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp. Khi bộ 9 phận bị mất đi thì chi phí trực tiếp không tồn tại và ngược lại. Các chi phí này có thể tính thẳng vào giá thành một cách trực tiếp mà không ảnh hưởng đến việc sản xuất các sản phẩm khác [2, tr. - Chi phí gián tiếp: Là chi phí có liên quan đến việc sản xuất nhiều loại sản phẩm hoặc dịch vụ, phải qua quá trình phân bổ mới trở thành chi phí của một bộ phận: Phí sản xuất chung.
Mối quan hệ giữa một yếu tố chi phí gián tiếp và bộ phận sử dụng nó được hình thành thông qua một mối quan hệ trung gian khác. Các chi phí gián tiếp không phát sinh và mất đi cùng với sự phát sinh và mất đi của một hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể [2, tr. Quản trị chi phí trong doanh nghiệp 1. Khái niệm quản trị chi phí Quản trị chi phí là phân tích các thông tin cần thiết cho công việc quản trị của một doanh nghiệp, các thông tin này bao gồm các thông tin tài chính (chi phí và doanh thu) lẫn các thông tin phi tài chính (năng suất, chất lượng và các yếu tố khác của doanh nghiệp) [2, tr.
Vai trò của quản trị chi phí trong doanh nghiệp Giúp doanh nghiệp nhận thấy các điểm mạnh, tập trung nguồn lực, tìm kiếm cơ hội hoặc các vấn đề quan trọng trong sản xuất kinh doanh. Giúp doanh nghiệp tìm được biện pháp để vừa nâng cao chất lượng sản phẩm mà lại không làm tăng chi phí. Giúp nhận diện được các nguồn lực có chi phí thấp nhất để tập trung vào nguồn lực đó. - Công nghệ sản xuất Thay đổi công nghệ sản xuất giúp cho doanh nghiệp có thể vừa kiểm soát được các dòng chi phí đầu vào (NVL, chi phí lao động…), vừa có thể xây dựng các quyết định cho đầu ra sản xuất (giá bán, sản lượng, lượng tồn kho…) để từ đó gia tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Định hướng khách hàng 10 Ngày nay, khách hàng thường có sở thích với những sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đa dạng với nhiều tính năng, cùng các dịch vụ đi kèm phong phú. Thị hiếu của khách hàng cũng thường xuyên thay đổi. Vì vậy, thỏa mãn những nhu cầu này của khách hàng với mức chi phí thấp nhất là mục tiêu cần hướng đến trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.