chương 1, tác giả nêu rõ lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu phân tích HQHĐ của các doanh nghiệp giấy Việt Nam. Mục tiêu chung của luận án được đề cập rõ ràng và được chi tiết thành các mục tiêu cụ thể. Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu, luận án xác định đối tượng nghiên cứu chính của luận án, phạm vi nghiên cứu về thời gian, không gian và nội dung. Mục tiêu nghiên cứu được cụ thể bằng các câu hỏi nghiên cứu.
Thiết kế nghiên cứu được diễn giải chi tiết từ bước phát triển hệ thống chỉ tiêu đến nghiên cứu phát hiện để điều chỉnh và hình thành bộ chỉ tiêu sơ bộ phân tích HQHĐ của các doanh nghiệp giấy, khảo sát quy mô rộng và phân tích kết quả khảo sát để đưa ra bộ chỉ tiêu phù hợp nhất với doanh nghiệp giấy Việt Nam, phân tích thực nghiệm để củng cố kết quả nghiên cứu. Kết thúc chương giới thiệu, luận án tóm tắt những đóng góp nổi bật của đề tài về mặt lý luận, về mặt thực tiễn và trình bày kết cấu của luận án. Sau chương giới thiệu, luận án sẽ làm rõ khoảng trống nghiên cứu và những vấn đề lý thuyết có liên quan. 9 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN cứu VÀ Cơ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 2.
Tổng quan nghiên cứu Luận án nghiên cứu tổng quan và chỉ ra khoảng trống nghiên cứu theo hai nhóm vấn đề chính: 1. Các nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu phân tích HQHĐ trong và ngoài nước. Các nghiên cứu đối với các doanh nghiệp giấy. Các nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu phân tích HQHĐ Phân tích HQHĐ đã có cả một lịch sử nghiên cứu đồ sộ và hiện nay đang được áp dụng phổ biến trong tất cả các lĩnh vực SXKD.
Thu thập dữ liệu và phân tích HQHĐ là một phần quan trọng trong công việc quản lý một tổ chức. Theo Neely (1998) những lý do chính để đo lường HQHĐ bây giờ nằm trong chính sách quản lý của doanh nghiệp đó là sự thay đổi về cách thức tổ chức công việc, sức mạnh của công nghệ thông tin, gia tăng cạnh tranh, đóng góp của các sáng kiến cải tiến, nhu cầu sử dụng thông tin từ bên ngoài. Phân tích HQHĐ xuất hiện từ sự cần thiết phải kiểm soát ngân sách và trải qua một cuộc cách mạng nghiên cứu đi từ việc xây dựng, áp dụng và phát triển các chỉ tiêu phân tích tài chính đơn thuần cho đến việc phân tích hiệu quả tích hợp bằng việc sử dụng các mô hình phân tích cân bằng, xem xét nhiều hơn đến tính phát triển bền vững (Bititci và cộng sự, 2009). Cụ thể: > Các nghiên cứu trên thế giói cuối những năm 1980 trở về trước: giai đoạn bùng nổ của các chỉ tiêu phân tích tài chính Các chỉ tiêu tài chính luôn luôn là công cụ có giá trị cho nhà quản lý, được các nhà quản lý ưa chuộng sử dụng khi tổng hợp, phân tích và cung cấp các thông tin hữu ích cho việc ra quyết định quản trị cũng như có dự báo quan trọng về tình trạng kinh doanh trong một tổ chức (Beaver, 1966; Chen và Shimerda, 1981; Singh và Schmidgall, 2002).
Những năm 1930, một vài chỉ tiêu tài chính được sử dụng trong phân tích HQHĐ kinh doanh. Fitzpatrick (1931) sử dụng 2 chỉ tiêu là Thu nhập thuần/Tài sản ròng và Tài sản ròng/ Tổng nợ phải trả. Smith và Winakor (1935) sử dụng Tài sản ròng/ Tổng nợ phải trả và 2 chỉ tiêu khác là vốn lưu động/ Tổng tài sản, Tài sản ròng/Tài sản cố định. Sau giai đoạn 1930 đến trước những năm 1965, nhiều nhà nghiên cứu ưa chuông sử dụng 3 chỉ tiêu cơ bản là Tài sản ròng/ Tổng nợ phải trả, vốn lưu động/Tổng tài sản, Tài sản lưu động/ Nợ ngắn trong nghiên cứu của mình (Merwin, 1942; Jackendorff, 1962; Moore và cộng sự, 1961).
số lượng chỉ tiêu phân tích sử dụng không nhiều, tập trung phân tích hiệu 10 quả của việc sử dụng tài sản trong các doanh nghiệp. Sau năm 1965, các chỉ tiêu phân tích tài chính đã thực sự bùng nổ. Nhu cầu sử dụng thông tin phân tích không chỉ trong lĩnh vực tín dụng mà còn của nhà quản lý, các cổ đồng, nhà đầu tư tiềm năng và các bên liên quan khác. Nhiều nghiên cứu đã tìm ra các chỉ số tài chính hữu ích trong nghiên cứu dự báo.
Nghiên cứu của Beaver (1966) sử dụng 30 chỉ tiêu chia thành 6 nhóm để kiểm tra khả năng các chỉ số tài chính có dự đoán việc một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản hay không. Tiêu chí lựa chọn các chỉ số được tác giả căn cứ vào mức độ phổ biến của các chỉ số trong các nghiên cứu trước, và dựa vào khái niệm “dòng tiền” để đưa ra một khuôn khổ phân tích thống nhất và có loại trừ sự trùng lặp của các chỉ tiêu phân tích. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh 6 chỉ số hữu ích: Thu nhập thuần/ Tổng Tài sản, Thu nhập thuần/ Tổng Nợ phải trả, Tổng Nợ/ Tổng tài sản, vốn lưu động/ Tổng tài sản, hệ số khả năng thanh toán nhanh, Khoảng không tín dụng. Tamari (1966) sử dụng 7 chỉ tiêu tài chính trong nghiên cứu công dụng dự báo phá sản còn Altman (1968) đề cập đến 5 chỉ số tài chính trong mô hình hồi quy.
Deakin (1972) nhấn mạnh vai trò của các chỉ tiêu tài chính trong dự báo sự cố kinh doanh để làm giảm những rủi ro cho các bên quan tâm, 14 chỉ tiêu phân tích được sử dụng. Những chỉ tiêu phân tích này được Libby (1975) bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho tính hữu ích của 14 chỉ tiêu phân tích tài chính trong mô hình dự báo khả năng thất bại của các công ty. Pinches và Mingo (1973) trong nghiên cứu về cách xếp hạng trái phiếu dựa vào các tỷ lệ phân tích tài chính đã đề cập đến 11 chỉ tiêu phân tích và Elam (1975) đã sử dụng 27 chỉ tiêu phân tích tài chính để xem xét đến ảnh hưởng của các dữ liệu của hợp đồng thuê tài sản (leasing) đến khả năng dự báo của các chỉ tiêu tài chính. Trong các nghiên cứu, có rất nhiều chỉ tiêu phân tích được sử dụng, một số chỉ tiêu được ưa chuộng trong phân tích bao gồm: vốn lưu động/Tổng tài sản, Tài sản ngắn hạn/ Nợ ngắn hạn, Tài sản ròng/ Tổng nợ phải trả, vốn lưu động/ Doanh thu, Thu nhập thuần/Tổng tài sản, Thu nhập thuần/Tài sản ròng (Bảng 2.
Whittington (1980a) đã xác định được hai nguyên tắc sử dụng chính của các chỉ số tài chính là để đo lường tỷ lệ của một công ty theo tiêu chuẩn truyền thống, và sử dụng cho các mục đích tiên đoán. Có thể nói, từ 1965 đến cuối những năm 1980, các chỉ tiêu tài chính thường xuyên được sử dụng trong các nghiên cứu phân tích. Tổng hợp của Chen và Shimerda (1981) cho thấy đã có một số lượng lớn các chỉ tiêu có tính chất tài chính được sử dụng. Đặc biệt, những nghiên cứu khác nhau lại sử dụng các chỉ số khác nhau.
Sự không đồng nhất này gây khó khăn cho việc lựa chọn các chỉ số phân tích hữu ích. Chẳng hạn, trong 26 nghiên cứu mà Chen và Shimerda (1981) tổng hợp lại đã phân tích hơn 100 khoản mục tài chính với 65 chỉ tiêu phân tích. 41 chỉ số trong số đó được các nhà nghiên cứu nhận định là hữu ích. Quá nhiều chỉ số sẽ làm cho các khách thể khó khăn trong việc lựa chọn các chỉ số sử dụng để phân tích và đưa ra dự đoán.
Các chỉ tiêu phân tích chồng chéo nhau, 11 nhiều chỉ tiêu chỉ là sự đảo ngược lại thành phần phân tích. Thậm chí, các nhà nghiên cứu còn tranh cãi về tính hữu dụng của các chỉ tiêu phân tích tài chính. Các nhà khoa học dường như đang tiến tới loại bỏ phân tích tỷ lệ như một kỹ thuật để đánh giá HQHĐ của doanh nghiệp. Tuy vậy, Altman (1968) đã chỉ ra rằng phân tích thông qua các chỉ tiêu tài chính vẫn cần phải được sử dụng, nhưng phải xác định những chỉ tiêu quan trọng và để tăng tính hữu ích thì có thể kết hợp kỹ thuật truyền thống này với các kỹ thuật thống kê.
Trên quan điểm đó, Jackendorff (1962) chứng minh rằng loại bỏ sự chồng chéo sẽ tốt cho việc phát triển một bộ chỉ tiêu phân tích tài chính hữu ích. Một công cụ thống kê thiết kế để nhóm nhiều biến vào một ít các nhân tố những vẫn giữ lại tối đa các thông tin chứa trong bộ biến ban đầu. Tác giả tổng kết lại các nghiên cứu và chỉ ra các chỉ tiêu phân tích tài chính có thể được đại diện bởi 7 nhân tố: Lợi tức đầu tư (Return on Investment), Đòn bẩy tài chính (Financial Leverage), Vòng quay vốn (Capital Turnover), Thanh khoản ngắn hạn (Short - term Liquidity), Tình hình tiền mặt (Cash position), Vòng quay hàng tồn kho (Inventory Turnover), và Vòng quay khoản phải thu (Receivables Turnover). Các nghiên cứu trong giai đoạn này đã phát triển mạnh các chỉ tiêu phân tích tài chính trong đánh giá HQHĐ của doanh nghiệp để khai thác tối đa khả năng tạo ra lợi nhuận của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, đã có quá nhiều chỉ tiêu tài chính được đưa ra trong các nghiên cứu gây ra sự chồng chéo và khó khăn trong việc vận dụng, đánh giá. Hơn thế nữa, việc sử dụng những chỉ tiêu tài chính như là một tiêu chí duy nhất đánh giá sự thành công của một doanh nghiệp không còn thích hợp khi nền kinh tế thế giới bước sang giai đoạn cạnh tranh phức tạp hơn.