CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE MOI QUAN HỆ GIỮA CAU TRÚC VON VÀ HIỆU QUA HOẠT DONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tài liệu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Samuel Fosu (2013) đã tập trung vào việc khảo sát cấu trúc vốn, tình trạng cạnh tranh trên thị trường sản phâm và hiệu quả kinh doanh của các công ty, dựa trên bằng chứng thu thập được từ Nam Phi. Nghiên cứu thu thập dữ liệu từ 257 công ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Johannesburg (JSE) Limited tại Nam Phi giai đoạn từ 1998 đến 2009.
Tác giả đánh giá mối quan hệ giữa đòn bay và hiệu quả hoạt động của công ty thông qua đo lường cạnh tranh Boone. Mẫu công ty được phân loại thành 8 ngành công nghiệp khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng đòn bay tài chính tại 257 công ty niêm yết ở Nam Phi đã có tác động tích cực và đáng ké đến hiệu quả hoạt động của các công ty này. Bên cạnh đó, tác giả tiếp tục đánh giá mối quan hệ hiệu suất đòn bay và hiệu quả công ty khi chịu ảnh hưởng của cạnh tranh thị trường sản phẩm.
Sử dụng tập dữ liệu bảng công ty niêm yết của Nam Phi, người ta thấy rằng đòn bẩy tài chính có tác động tích cực đáng kể đến hiệu suất công ty. Ngoài ra, bằng cách sử dụng Chỉ số Herfindahl-Hirschman và chỉ số Boone như các thước đo cạnh tranh thay thế, người ta thấy rằng các công ty ở các thị trường không tập trung. Điều đó có nghĩa là, trong khi việc sử dụng đòn bẩy có thé mang lại lợi ích đáng kể cho các ngành công nghiệp cạnh tranh, thì các ngành công nghiệp tập trung không cạnh tranh có thể đói mặt với tác động tiêu cực của việc sử dụng đòn bẩy. Những phát hiện của bài báo này có hai ý nghĩa chính sách chính.
Đầu tiên, các công ty tại Nam Phi có thé cải thiện đáng kề hiệu suất của họ nếu có sự thay đổi từ hiện tại, thận trọng trong việc sử dụng nợ. Thứ hai, trong khi các chính sách nhằm mở rộng phạm vi tài trợ nợ cho các công ty có thê có tác động tích cực đáng kể đến hiệu suất của họ, lợi ích của những chính sách này sẽ được tối đa hóa 1S nếu chúng được áp dụng phù hợp với các quy định cạnh tranh hiệu qua trong lĩnh vực sản phẩm. Nhóm tác giả Wan Shahzlinda Shah Bt Shahara và Wan Shahdila Shah Bt Shaharb (2015) đã tiến hành nghiên cứu về "Tác động của đòn bay đến hiệu quả doanh nghiệp. Bằng chứng từ các công ty tuân thủ và không tuân thủ luật Shariah ở Malaysia".
Nghiên cứu của họ tập trung vào 62 công ty sản xuất ở Malaysia trong giai đoạn 2008-2012 và đo lường tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả của các công ty này. Phương pháp của nghiên cứu đã được áp dụng dé phân tích tác động của đòn bảy tài chính đến hiệu quả doanh nghiệp là Pool OLS (pooled ordinary least square) và GLS (Generalized least square). Trong mẫu nghiên cứu, tổng cộng có 70 công ty niêm yết thuộc ngành xây dựng, bao gồm cả các công ty tuân thủ và không tuân thủ theo luật Shariah, được phân tích trong khoảng thời gian từ 2008 đến 2012. Kết quả cho thấy việc sử dụng đòn bẩy trong các công ty tuân thủ và không tuân thủ luật Shariah là khác nhau hoàn toàn.
Tỷ lệ nợ không ảnh hưởng đến hiệu quả của các công ty tuân thủ luật Shariah, được đánh giá dựa trên lợi nhuận tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) nhưng nợ ngắn hạn và nợ dài hạn lại ảnh hưởng đến giá trị số sách (MTBV) của các công ty này một cách tiêu cực. Mặt khác, kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng, đối với các công ty không tuân thủ luật Shariah, có sự tương quan ngược lại; tức là nợ đài hạn và tổng nợ có ảnh hưởng đến hiệu quả dựa trên ROE. Tuy nhiên, quy mô của công ty lại có mối liên hệ tích cực với hiệu quả của các công ty không tuân thủ luật Shariah. Nghiên cứu của MA Jiahui (2015) về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của công ty, bằng chứng từ Thị trường doanh nghiệp tăng trưởng ở Trung Quốc đã đưa ra và phân tích bốn nhân tố Growth potential (GP), Board size (B_SIZE), Collateral value of assets (CVO), Firm size (C_SIZE) tác động dén hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Sau đó, các công ty có dữ liệu bất thường hoặc thiếu các phần dữ liệu sẽ bị loại bỏ tác giả thu thập được số đầy đủ của 367 công ty niêm yết trên thị trường Trung Quốc trước năm 2013. Tác giả đã xây dựng các mô hình nghiên cứu đồng thời về cả cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động trong bài nghiên 16 cứu. Kết quả cho thấy cấu trúc vén và công ty hiệu suất tồn tại mối quan hệ tương tác và vốn cơ cấu, khả năng tăng trưởng, mức độ tập trung vốn chủ sở hữu, hội đồng quản trị và quy mô công ty sẽ ảnh hưởng đáng ké đến công ty hiệu suất. Khả năng sinh lời, khả năng tăng trưởng, trả nợ khả năng, giá trị tài sản đảm bảo và quy mô doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc vốn.
Bài nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế cụ thé do thị trường GEM Trung Quốc chưa trưởng thành nên có một số vấn đề như giá phát hành cao, tỷ lệ giá trên thu nhập cao, tỷ lệ đăng ký vượt mức cao hơn.Ngoài ra, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Trung Quốc còn có tiềm năng trong tài trợ nội bộ, tai trợ bằng vốn chủ sở hữu ngoài nợ tài chính, do đó, phân tích thị trường GEM Trung Quốc nên đưa tình hình thực tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Trung Quốc vào Sự xem xét. Nhóm tác gia W A K L Sudharika, S P R M De Silva, G T Madhusankha, K Y V Madhushanka, L Siriwardhana (2017) đã xem xét tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trong Lĩnh vực Khách sạn và Du lịch của Sở giao dịch chứng khoán Colombo (CSE). Dữ liệu thời gian nghiên cứu bắt đầu từ ngày 1/4/2012 đến ngày 31/3/2017 trong vòng 5 năm. Có 39 công ty được liệt kê trong Lĩnh vực Khách sạn và Du lịch của CSE tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2018.
Trong số đó, 33 công ty đã được chọn dựa trên sự sẵn có của báo cáo hàng năm cho giai đoạn 5 năm. Bài nghiên cứu đã sử dụng bảng thiết kế hồi quy theo phương pháp nghiên cứu định lượng dé đánh giá tác động của của cấu trúc vốn đến hiệu quả tai chính của công ty niêm yết trong Lĩnh vực Khách sạn và Du lịch. Trong nghiên cứu này, các biến độc lập bao gồm ROCE (lợi nhuận trên vốn sử dụng), chỉ số Tobin's Q, EPS (thu nhập trên mỗi cỗ phan) và ROA (lợi nhuận trên tài sản). Tổng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu được xác định là biến phụ thuộc đê đo lường cấu trúc vốn.
Quy mô công ty, tuổi tác, tốc độ tăng trưởng, tính hữu hình và tính thanh khoản đã được sử dụng làm biến kiểm soát. Nghiên cứu đã chứng minh rằng cấu trúc vốn có tác động tiêu cực đáng kể đến hiệu suất tài chính trong lĩnh vực Khách sạn và Du lịch này. Theo các mô hình hồi quy bảng được phát triển trong nghiên cứu này, mối quan hệ tiêu cực có ý nghĩa thống kê đã được xác định giữa tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và 17 bốn biến phụ thuộc trong khi được coi là biến kiểm soát cho thấy tác động trái ngược nhau trong các mô hình khác nhau và tác động tĩnh không đáng kể đối với bốn biến phụ thuộc. Phát hiện của kết quả nghiên cứu phù hợp với kết quả nghiên cứu thực hiện ở Sri Lanka.
Bài nghiên cứu còn có một số hạn chế như thời gian nghiên cứu ngắn và dữ liệu chỉ được thu thập trong vòng 5 năm cho các công ty niêm yết. Hơn nữa, ít thước đo hiệu quả tài chính và báo cáo hàng năm được chuân bị dựa trên từng công ty chính sách kế toán đã được sử dụng trong nghiên cứu này. Do hạn chế đó, dữ liệu thu được không thé thống nhất giữa các hãng. Tuy nhiên, nghiên cứu đã đưa ra một số khuyến nghị quan trọng về cấu trúc vốn đối với các bên liên quan của các hãng.
Nên xem xét cấu trúc vốn của các công ty trước khi đầu tư, đây là lời khuyên dành cho nha đầu tư. Phía nhà quản lý công ty trước khi thay đổi cơ cấu vốn tại doanh nghiệp cần xem xét tác động của đòn bẩy lên hiệu quả hoạt động của công ty. Bài viết nghiên cứu của V. Lvovm (2021) đã xem xét và phân tích mối quan hệ của các chỉ số hiệu suất hoạt động (ROA, ROIC, thay đổi vốn hóa thị trường và tỷ lệ giá trên số sách) và cơ cầu vốn của công ty dựa trên ngành được phẩm tại Vương quốc Anh giai đoạn 2009-2019.
Nghiên cứu đã sử dụng mẫu gồm 185 công ty của Vương quốc Anh trong ngành dược phẩm và sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng và kiểm định Wald để xác định và phân tích ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến các chỉ tiêu tài chính về hiệu quả hoạt động của công ty. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nợ dài hạn có tác động tích cực đến các biến phụ thuộc như tỷ lệ DMC và PB, nợ ngắn hạn ảnh hưởng tiêu cực đến DMC, ROA và ROIC và vốn chủ sở hữu tác động tiêu cực đến tỷ lệ PB và ROA, trong khi DMC tác động tích cực. Như vậy, 4 trong số 5 giả thuyết được đưa ra đã bị bác bỏ. Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn chủ sở hữu có tác động tiêu cực đến tỷ số giá trên số sách và ROA và tác động tích cực đến sự thay đổi vốn hóa thị trường, trong khi nợ dài hạn có mối quan hệ cùng chiều với tỷ số giá trên số sách và sự thay đổi vốn hóa thị trường.
Tuy nhiên, cũng cần đề cập rằng kết quả có thẻ thay đổi tùy theo đặc thù của quốc gia và ngành. Hơn nữa, kích thước của mẫu và thời gian thực hiện cũng có thể thay đổi kết quả nghiên cứu vì một số yếu tố quan trọng có thể được đưa vào.