phần mở đầu và kết luận đề tài tập trung vào bốn nội dung chính sau: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu về cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Hàm ý chính sách 6 CHƯ NG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP V CẤU TRÚC VỐN 1. K á n ệm và p ơng p áp xá địn g á trị o n ng ệp Nếu xem doanh nghiệp là một tài sản đầu tƣ, thì giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào thu nhập mang lại cho nhà đầu tƣ. Nói cách khác giá trị doanh nghiệp là những lợi ích hiện hữu và những khoản lợi tiềm năng một doanh nghiệp có thể tạo ra đƣợc thể hiện dƣới hình thức giá trị mà chúng ta có thể tính toán, xác định thông qua các phƣơng pháp, mô hình định giá phù hợp.
Để xác định giá trị doanh nghiệp có nhiều phƣơng pháp và cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, các phƣơng pháp này tập trung chủ yếu vào các quan điểm sau đây: Phƣơng pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo phƣơng pháp chiết khấu dòng tiền Theo phƣơng pháp này, giá trị của một doanh nghiệp đƣợc xác định là giá trị hiện tại của dòng tiền tự do trong tƣơng lai của doanh nghiệp, lƣu ý rằng dòng tiền tự do này là dòng tiền cho cả chủ sở hữu và chủ nợ. Phƣơng pháp này có ƣu điểm là xác định giá trị doanh nghiệp trong trạng thái hoạt động liên tục mà không phải tình trạng thanh lý, tuy nhiên việc dự báo dòng tiền trong tƣơng lai của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Giá trị doanh nghiệp = PV{dòng tiền tự do trong tƣơng lai cho chủ sở hữu và chủ nợ} (1.1) Phƣơng pháp này thực hiện qua 3 bƣớc : 1.
Xác định dòng tiền tự do trong tƣơng lai của doanh nghiệp 2. Xác định chi phí vốn bình quân 3. Chiết khấu dòng tiền tự do trong tƣơng lai về giá trị hiện tại 7 Phƣơng pháp định giá trị doanh nghiệp dựa trên giá trị về tài sản Theo Modigliani (1980) [34] đã định nghĩa: “Giá trị doanh nghiệp bằng tổng các khoản nợ và vốn chủ sở hữu nếu doanh nghiệp có sử dụng đòn bẩy tài chính; Giá trị doanh nghiệp ch bằng giá trị của vốn chủ sở hữu nếu doanh nghiệp không có sử dụng đòn bẩy tài chính”. Dựa trên quan điểm của Modigliani (1980) [34], các nhà nghiên cứu thực nghiệm Risius (2007) [29], Antwi và cộng sự (2012) [37], Ogbulu và cộng sự (2012) [39] đã xác định giá trị doanh nghiệp nhƣ sau: Giá trị doanh nghiệp = Giá trị vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn có chịu lãi suất (1.2) Đây là phƣơng pháp thƣờng đƣợc sử dụng bởi nhiều nhà phân tích nhờ tính đơn giản và tính chính xác tƣơng đối cao.
Phƣơng pháp định giá trị doanh nghiệp dựa trên hiệu quả hoạt động. Đây là phƣơng pháp xác định giá trị của doanh nghiệp theo quan điểm vận động của đồng vốn với kỳ vọng gia tăng giá trị vốn chủ sở hữu, tức là gia tăng giá trị doanh nghiệp. Theo nghiên cứu của Rocca (2010) [44], với một mẫu gồm 36 nghiên cứu trong giai đoạn 1988-2006 đƣợc lựa chọn để điều tra thì có 33% nghiên cứu sử dụng ch tiêu ROA, ROE đại diện cho giá trị doanh nghiệp và 67% nghiên cứu sử dụng ch số Tobin’s Q và các ch tiêu khác nhƣ EPS, EVA, P/E…đại diện cho giá trị doanh nghiệp. Các ch tiêu ROE, Tobin’s Q, EVA thƣờng đƣợc các nhà nghiên cứu tính toán nhƣ sau: + Chung và cộng sự (1994) [17], Lin (2010) [20], Hsiung và cộng sự (2012) [26] đã tính toán ch số Tobin’s Q nhƣ sau: Giá trị vốn hóa thị trƣờng + Giá cổ phiếu ƣu đãi + Nợ Tobin’s Q = (1.3) Giá trị sổ sách của tổng tài sản (Trong đó: giá trị vốn hóa thị trƣờng là giá trị thị trƣờng cổ phiếu phổ 8 thông của một công ty, và đƣợc tính bằng cách lấy mức giá thị trƣờng hiện tại trên mỗi cổ phiếu nhân với tổng số cổ phiếu phổ thông đang lƣu hành của công ty) Tobin’s Q là ch số đo lƣờng giá trị doanh nghiệp hoặc hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Giá trị này thể hiện cho tài sản doanh nghiệp điều ch nh theo giá trị thị trƣờng. + Hsiung và cộng sự (2012) [26], tính toán giá trị kinh tế tăng thêm nhƣ sau: Giá trị kinh tế gia tăng (EVA) = (Lợi nhuận sau thuế trên vốn đầu tƣ – Chi phí sử dụng vốn bình quân) x Vốn đầu tƣ (1.4) Trong đó, vốn đầu tƣ là tổng vốn đƣợc huy động từ nguồn vốn vay nợ và vốn do chủ sở hữu bỏ ra đầu tƣ.5) Vốn chủ sở hữu Việc nghiên cứu ROE trong mối quan hệ với sự thay đổi của cấu trúc vốn có ý nghĩa kinh tế quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp khi ra quyết định sử dụng các nguồn tài trợ để thực hiện các phƣơng án kinh doanh nhằm đạt lợi nhuận tối đa [1]. Theo quan điểm này, khi xác định giá trị doanh nghiệp phải chú ý đến lợi thế kinh doanh thông qua lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận quá khứ và việc dự kiến lợi nhuận tƣơng lai của doanh nghiệp. Do vậy, có thể xem xét tài sản theo hƣớng tài sản tài chính, có nghĩa là giá trị mà ngƣời đầu tƣ có thể và chuẩn bị trả khi mua tài sản để đạt đƣợc một kết quả, hiệu quả nào đó mà họ dự kiến đạt đƣợc.2 Khái niệm cấu trúc vốn Cấu trúc tài chính là một trong những chủ đề quan trọng trong lý thuyết tài chính.
Xuất phát từ lý thuyết hiền đại về cấu trúc vốn của Franco Modigliani và Merton Miller (1958) [35], hàng loạt các lý thuyết đã đƣợc phát triển để giải thích sự khác biệt trong lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiêp nhƣ lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, lý thuyết trật tự phân hạng trong tài trợ, lý thuyết tín hiệu thị trƣờng, lý thuyết chi phí đại diện. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu gần đây về cấu trúc vốn tập trung chủ yếu vào lý thuyết trật tự phân hạng trong tài trợ và lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn. Đối với các doanh nghiệp bất động sản Việt Nam, hầu hết có cơ cấu nợ không hợp lý, nợ ngắn hạn luôn chiếm cao hơn 50% tổng nguồn vốn và có khi lên tới hơn 100% so với nợ dài hạn. Tuy nhiên, với đặc thù ngành bất động sản mặc dù các doanh nghiệp đa số là vay nợ ngắn hạn, nhƣng hầu hết đều thực hiện việc đảo nợ khi các khoản nợ này đến hạn trả, chính vì thế, bản chất của các khoản nợ này đƣợc xem nhƣ là một khoản vay dài hạn của doanh nghiệp, mặc dù nó nằm ở mục nợ ngắn hạn trên bảng cân đối kế toán.
Chính vì lý do trên, luận văn sử dụng khái niệm cấu trúc vốn theo Colin Firer và cộng sự (2004) [13] và có sự điều ch nh phù hợp với đặc thù ngành nhƣ sau: “Cấu trúc vốn đề cập đến sự pha trộn giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà một doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp đó. Cấu trúc vốn tối ƣu hay tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu tối ƣu đạt đƣợc khi giá trị của doanh nghiệp đƣợc tối đa hóa trong quan hệ chi phí sử dụng vốn là tối thiểu”. Nợ phải trả Tỷ số nợ (D/A) = x 100% (1.6) Tổng tài sản 10 1. TỔNG QUAN MỘT SỐ LÝ THUYẾT CẤU TRÚC VỐN 1.
Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller Lý thuyết hiện đại về cấu trúc vốn đƣợc Franco Modigliani và Merton Miller đƣa ra năm 1958 – sau đây gọi tắt là lý thuyết M&M. Lý thuyết này dựa trên những giả định quan trọng sau đây: (i) Giả định về thuế (ii) Giả định về chi phí giao dịch (iii) Giả định về chi phí khó khăn tài chính (iiii) Giả định về thị trƣờng hoàn hảo Lý thuyết này đƣợc phát biểu thành hai mệnh đề quan trọng. Mệnh đề thứ nhất (I) nói về giá trị doanh nghiệp. Mệnh đề thứ hai (II) nói về chi phí sử dụng vốn.
Hai mệnh đề này đƣợc xét trong hai trƣờng hợp ứng với hai giả định là không có thuế và có thuế. Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller trong trường hợp không có thuế Lý thuyết M&M (1958) [35] là lý thuyết đầu tiên nghiên cứu về cấu trúc vốn của doanh nghiệp trong mối quan hệ với chi phí vốn và giá trị doanh nghiệp. Đây cũng là nền tảng cơ sở để các lý thuyết sau này ra đời. Với những giả định nhƣ sau: - Không có thuế thu nhập doanh nghiệp - Không có thuế thu nhập cá nhân - Không có chi phí phá sản và chi phí khốn khó tài chính - Nhà đầu tƣ và doanh nghiệp đều có thể vay tiền ở mức lãi suất nhƣ nhau - Lợi nhuận kỳ vọng hàng năm không đổi - Thị trƣờng vốn hoàn hảo Lý thuyết M&M (1958) [35] phát biểu thành hai mệnh đề: 11 Mệnh đề I – Giá trị doanh nghiệp trong trƣờng hợp không có thuế Theo nhƣ mệnh đề M&M (1958), chứng minh rằng, dƣới giả định một thị trƣờng hoàn hảo, giá trị doanh nghiệp không bị ảnh hƣởng bởi cấu trúc tài trợ, tất cả các kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải trả là nhƣ nhau hay nói cách khác giá trị doanh nghiệp có vay nợ bằng giá trị doanh nghiệp không vay nợ.
Vì vậy, không tồn tại một cấu trúc vốn tối ƣu nào. Cũng theo Myers (1984) [37], bảng cân đối kế toán của một doanh nghiệp dùng để giải thích chi tiết mệnh đề M&M (1958). Khi đó các nhân tố ảnh hƣởng đến giá trị doanh nghiệp ch đến từ những nhân tố bên trái của bảng cân đối. Chính vì thế, giá trị tài sản và các cơ hội phát triển là không đổi.
Mệnh đề II – Chi phí sử dụng vốn trong trƣờng hợp không có thuế Mệnh đề M&M (1958) [35] cũng ch ra rằng lợi nhuận yêu cầu trên vốn chủ sở hữu có quan hệ cùng chiều với cấu trúc vốn (D/A), lợi nhuận trên vốn chủ (ROE) tăng lên từ đòn bẩy tài chính chính xác bằng sự tăng lên của rủi ro chi phí vốn chủ, vì thế chi phí vốn bình quân (WACC) là không thay đổi. Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller trong trường hợp có thuế Trong nghiên cứu thứ hai về cấu trúc vốn, Modigliani và Miller (1963) [36], loại bỏ giả định không có thuế và xem nó nhƣ là yếu tố quyết định cấu trúc vốn. Tính năng chính của thuế đƣợc xem nhƣ phần lợi có đƣợc từ việc khấu trừ thuế.