Chương 1 nhằm xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu 8 (mục tiêu nghiên cứu chung và mục tiêu nghiên cứu cụ thể), đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và giới hạn của nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết Trình bày các khái niệm về chung cư, căn hộ,. và các lý thuyết hành vi tiêu dùng của Philip Kotler, hành vi hợp lý và hành vi dự định. Tóm tắt nội dung của các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan, từ đó áp dụng vào thực tế nghiên cứu để điều chỉnh mô hình nghiên cứu của Luận văn này.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu “ Trình bày phương pháp đánh giá thang đo và kiểm định mô hình hồi quy liên quan đến mối quan hệ giữa các biến độc lập và ý định mua căn hộ chung cư. Đề xuất quy trình nghiên cứu. ” Luận văn đưa ra 9 yếu tố độc lập và một yếu tố ý định để sử dụng làm biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả thang đo các yếu tố ảnh hưởng tới ý định mua căn hộ chung cư và mô hình nghiên cứu.
Xác định yếu tố giá cả có ảnh hưởng cao nhất, yếu tố văn hoá xã hội có ảnh hưởng thấp nhất. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị “ Trình bày các kết quả nghiên cứu và kết luận, hàm ý quản trị và đưa ra các gợi ý chính sách cho các nhà quản trị doanh nghiệp; gợi ý chính sách và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. ” Tài liệu tham khảo Phụ lục. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Khái niệm về nhà ở thương mại - Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội: “ Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân. ” - Theo Khoản 4 và Khoản 21 Điều 3 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội: “ Nhà ở thương mại là nhà ở được đầu tư xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua theo cơ chế thị trường. ” - Theo Khoản 7 Điều 3 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội: “ Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật này. ” - Theo Khoản 8 Điều 3 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội: “ Dự án đầu tư xây dựng nhà ở là tổng hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để xây dựng mới nhà ở, các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phục vụ nhu cầu ở hoặc để cải tạo, sửa chữa nhà ở trên một địa điểm nhất định.
” - Theo Khoản 9 Điều 3 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội: “ Phát triển nhà ở là việc đầu tư xây dựng mới, xây dựng lại hoặc cải tạo làm 10 tăng diện tích nhà ở. ” - ” Theo Khoản 21 Điều 3 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội: ” “ Nhà ở hình thành trong tương lai là nhà ở đang trong quá trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng. ” - ” Theo Khoản 13 Điều 3 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội: ” “ Chủ sở hữu nhà chung cư là chủ sở hữu căn hộ chung cư, chủ sở hữu diện tích khác trong nhà chung cư. ” - ” Theo Khoản 1 Điều 17 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội, hình thức phát triển nhà ở bao gồm: ” a) Phát triển nhà ở theo dự án đầu tư xây dựng nhà ở; b) Phát triển nhà ở theo dự án đầu tư xây dựng khu đô thị; c) Phát triển nhà ở của hộ gia đình, cá nhân.
- ” Theo Điều 24 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội, loại và tiêu chuẩn diện tích nhà ở thương mại được quy định như sau: ” 1. Loại nhà ở, tiêu chuẩn diện tích của từng loại nhà ở thương mại do chủ đầu tư dự án quyết định lựa chọn nhưng phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng, tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, kiến trúc nhà ở và nội dung quyết định chủ trương đầu tư dự án xây dựng nhà ở của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với căn hộ chung cư thì phải thiết kế, xây dựng theo kiểu căn hộ khép kín, có diện tích sàn căn hộ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng. Đối với nhà ở riêng lẻ thì phải xây dựng theo đúng quy hoạch chi tiết xây dựng, thiết kế được phê duyệt theo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng.
Khái niệm về căn hộ chung cư a. Khái niệm - Theo Khoản 3 Điều 3 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội: “ Nhà chung cư là nhà có từ 2 tầng trở lên, có nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, bao gồm nhà chung cư được xây dựng với mục đích để ở và nhà chung cư được xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh. ” - Theo Khoản 15 Điều 3 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội: “ Phần sở hữu riêng trong nhà chung cư là phần diện tích bên trong căn hộ hoặc bên trong phần diện tích khác trong nhà chung cư được công nhận là sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư và các thiết bị sử dụng riêng trong căn hộ hoặc trong phần diện tích khác của chủ sở hữu nhà chung cư theo quy định của Luật này. ” - Theo Khoản 15 Điều 3 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội: “ Phần sở hữu chung của nhà chung cư là phần diện tích còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư và các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư đó theo quy định của Luật này.
Phân hạng nhà chung cư “ Theo quy định tại Điều 5 Thông tư 31/2016/TT-BXD ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ Xây dựng, việc phân hạng nhà chung cư được xác định dựa trên cơ sở 04 nhóm tiêu chí như: Nhóm tiêu chí về quy hoạch - kiến trúc; Nhóm tiêu chí về hệ thống, thiết bị kỹ thuật; Nhóm tiêu chí về dịch vụ, hạ tầng xã hội; Nhóm tiêu chí về 12 chất lượng, quản lý, vận hành. ” Theo Điều 6 Thông tư 31/2016/TT-BXD, nhà chung cư được phân thành 03 hạng: Hạng A, Hạng B, và Hạng C. Lý thuyết liên quan 2. Lý thuyết hành vi người tiêu dùng (Kotler & Amstrong, 2005) Một số quan điểm về hành vi người tiêu dùng: Theo Philip Kotler, “hành vi của người tiêu dùng là việc nghiên cứu cách các cá nhân, nhóm và tổ chức lựa chọn, mua, sử dụng và loại bỏ hàng hóa, dịch vụ, ý tưởng và trải nghiệm để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ”.
“ Các doanh nghiệp khi hiểu về hành vi mua hàng của người tiêu dùng sẽ đưa ra các chính sách bán hàng để tiếp cận và thu hút khách hàng, đồng thời có chiến lược để chuyển đổi họ thành khách hàng của minh. ” Theo Philip Kotler, có 4 yếu tố tác động đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng gồm: Yếu tố cá nhân, Yếu tố tâm lý, Yếu tố văn hoá, Yếu tố xã hội. Nguồn: Philip Kotler (2005) Hình 2. 1: Mô hình chi tiết hành vi người tiêu dùng 13 2.
Lý thuyết hành vi dự định - TPB (Ajzen, 1991) “ Lý thuyết này giải thích cách con người hình thành ý định và hành động dựa trên những yếu tố tư duy và xã hội, là phần mở rộng của lý thuyết hành vi hợp lý (Ajzen & Fishbein, 1980); theo đề xuất của Ajzen, TPB dự đoán hành vi trong thế giới thực. Trong nhiều năm qua, lý thuyết hành vi dự định đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới sử dụng trong nhiều nghiên cứu của họ, các nghiên cứu này chỉ ra rằng, chúng ta có thể đoán trước được ý định của con người. Ý định hành vi của một người chịu ảnh hưởng của một thái độ đối với các hành vi, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức (Ajzen, 1991). Do đó, các ứng dụng từ lý thuyết hành vi dự định được sử dụng để nghiên cứu và nhận biết về mối quan hệ của những ý định để thực hiện hành vi của con người.
Ý định hành vi của một người được hình thành dựa trên thái độ cá nhân (Attitude), chuẩn mực chủ quan (Subjective Norms) và khả năng kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control). Các yếu tố này tương tác với nhau để ảnh hưởng đến ý định hành vi và cuối cùng là hành vi thực tế của một người. Cho đến nay, TPB được sử dụng như là một lý thuyết để giải thích và dự báo hành vi của con người. Numraktrakul và cộng sự, trong một nghiên cứu được công bố vào năm 2012 đã dùng TPB như là một mô hình để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua nhà.
” “ Lý thuyết hành vi dự định - TPB của Ajzen (1991) xây dựng một khung lý thuyết cho việc hiểu và dự đoán hành vi của con người. Bằng cách xem xét thái độ cá nhân, nguyên tắc chủ quan và khả năng kiểm soát hành vi, TPB giúp giải thích tại sao một người có ý định và thực hiện một hành vi cụ thể. Nó cũng có thể được mô tả như là một sự đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của một cá nhân đối với một đối tượng cụ thể (Ajzen & Fishbein, 1980). Cũng có định nghĩa khác cho thái độ là sự phản ứng và khuynh hướng cá nhân đối với một đối tượng cụ thể (Yusliza & Ramayah, 2011).
Các nghiên cứu trước đây (Gopi & 14 Ramayah, 2007; Kim & Han, 2010; Fauziah & cộng sự, 2008) đã phát hiện một mối quan hệ mạnh mẽ và ổn định giữa thái độ và ý định mua hàng. Khách hàng thường so sánh các dịch vụ nhận thức với mong đợi của họ. Nếu dịch vụ không đạt được mong đợi, khách hàng sẽ không hài lòng.