Phần mở đầu Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến giá bán bất động sản Chương 3: Bối cảnh nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến giá bán căn hộ chung cư cao cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội Chương 5: Giải pháp và kiến nghị Kết luận luan an 9 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN 2. Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến giá bất động sản 2. Các công trình khoa học đã công bố ở nước ngoài 2. Các công trình khoa học đã công bố ở nước ngoài về giá cả và và định giá Giá cả là yếu tố sống còn của hết thảy mọi doanh nghiệp tham gia thị trường.
Giá cả là mục đích thu hồi vốn đầu tư nhanh, giảm chi phí, mua rẻ bán đắt và cuối cùng của mọi hoạt động thương mại là mang lại lợi nhuận. Chủ động về giá cả là hành động thích ứng mau lẹ và là cách duy nhất để giữ doanh thu hoặc bảo vệ thị phần; Andreas Hinterhuber, (2008) đưa ra năm yếu tố trở ngại khi thực hiện chiến lược định giá dựa vào giá trị tài sản là: i/đánh giá quá thấp giá trị tài sản; ii/ truyền thông về giá trị thấp hơn giá trị thực tế; iii/ không có phân đoạn thị trường hiệu quả; iv/ quản trị lực lượng bán hàng yếu kém; và v/ thiếu hỗ trợ từ quản lý cao cấp. Tác giả Nigel và cộng sự (2010) cho thấy yêu cầu về người quản lý cần có tầm nhìn chiến lược tổng thể hơn là chỉ nghĩ về giá và kiểm soát khả năng tăng giá, đặc biệt trong hoàn cảnh hậu khủng hoảng. David và David, (2012) liệt kê sáu yếu tố thuộc marketing về giá là: i/ khả năng thanh toán của khách hàng ; ii/ giá trị thương hiệu ; iii/ mức độ cạnh tranh trên thị trường ; iv/ mức giá cao rào cản gia nhập ;v/ cầu so với cung ; và vi/ mục tiêu thị phần và phân biệt đáng kể các chiến lược giá cao hay thấp.
Khi sử dụng các yếu tố này, mô hình thống kê được phát triển dựa vào phân tích sự khác biệt. Nghiên cứu này hỗ trợ cho lý thuyết marketing về phân biệt giá dựa trên thị trường, khách hàng và cạnh tranh. Đây là nghiên cứu đầu tiên cung cấp phân tích hệ thống và chắc chắn về các yếu tố marketing tác động đến quyết định giá cao hoặc giá thấp. Bằng cách áp dụng các yếu tố này trong mô hình ra quyết định, các nhà marketing có một nhóm công cụ có thể hỗ trợ cho quá trình ra quyết định marketing về giá cả.
Stephan & Andreas (2013) phát hiện ra định giá dựa vào giá trị tài sản cố định và sinh lời của doanh nghiệp. Hơn nữa, các tác giả tìm ra ba xu hướng định giá có ảnh hưởng khác nhau đến khả năng định giá của công ty, từ đó liên quan đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu này là kết quả nghiên cứu đầu tiên đề cập đến giá trị tổng tài sản và kết quả hoạt động qua nghiên cứu định lượng cả về lý thuyết và thực luan an 10 hành, gợi ý cho các công ty ở bất kỳ quy mô nào, ngành nghề lĩnh vực nào, hay ở đâu đều có lợi từ phương pháp định giá dựa vào giá trị. Bất động sản những tài sản đặc biệt được đầu tư và kinh doanh kèm theo chuỗi dịch vụ đa tiện ích để phục vụ con người và có giá trị tài sản rất cao nhờ vào các đặc tính hữu ích (Rosen, 1974).
Do đó, các hộ gia đình đánh giá các đặc tính sử dụng thích hợp về nơi ở chứ không phải sự bóng bẩy nhưng bất tiện dụng của chính sản phẩm. Vì bất động sản là tài sản về sinh sống của con người và được cố định trong không gian, nên khách hàng nào cũng lựa chọn nhiều yếu tố tích cực về môi trường sống và chất lượng các dịch vụ tiện ích cho nơi ở (Malpezzi, 2003). Các công trình khoa học đã công bố ở nước ngoài về môi trường vĩ mô có ảnh hưởng đến giá bán bất động sản Các phương thức mà Nhà Nước trao quyền sử dụng đất và sử dụng tài sản đều bị ràng buộc bởi các chính sách quản lý, các quy định và hạn chế trong việc quy hoạch và các hoạt động phát triển thị trường (Riddiough, 1997; Cunningham, 2007). Ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Hồng Kông và một số thành phố ở Mỹ và Australia, đất thuộc sở hữu của Nhà Nước (Chính phủ) và được chia theo các hợp đồng thuê đất lâu dài, nên thị trường đất đai trên thực tế là thị trường thuê theo hợp đồng.
Từ chiến lược phát triển đô thị của chính quyền, thông qua các điều khoản hợp đồng thuê đất và thuê nhà bằng các thỏa thuận pháp lý và thường áp đặt thông qua quy hoạch đô thị và các yêu cầu pháp lý. Lãi suất cũng rất quan trọng đối với bất động sản. Ciurlia và Gheno (2009) cho rằng lợi nhuận của thị trường bất động sản cho phép các bên tham gia quản lý rủi ro và lợi nhuận, mà không mua hoặc bán trực tiếp các tài sản cơ sở. Thị trường như trên đang phát triển rất nhanh, do đó, nhu cầu to lớn là cần phải có mô hình định giá đơn giản nhưng hiệu quả.
Frappa và Mesonnier (2010) trong nghiên cứu của mình đã tìm ra bằng chứng mạnh mẽ của hiệu ứng tích cực từ lạm phát, nhắm đến tăng trưởng giá nhà đất thực tế và trên tỷ lệ giá nhà bán và cho thuê. Lạm phát cũng tác động lớn đến lợi nhuận của các nhà đầu tư bất động sản. Lạm phát làm giảm tỷ lệ lãi suất thực tế, nhưng các động lực thúc đẩy lạm phát có nghĩa là tỷ lệ lãi suất danh nghĩa sẽ phù hợp với tăng trưởng, như Eving và Payne (2003) phân tích. Clark (1993) cũng xác định chắc chắn về thực tế lạm phát làm giảm đầu tư, kinh tế tăng trưởng và năng suất trong tương lai.
Huizinga (1993) tuyên bố lạm phát hạ thấp sự ổn định giá cả liên quan, dẫn đến sự bất định của các khoản đầu tư tăng lên… luan an 11 Psunder (2009) đã nghiên cứu các tác nhân ảnh hưởng đến thị trường bất động sản và nhận ra rằng các sự tăng trưởng của Bất động sản cũng xảy ra khi các tác nhân ảnh hưởng có chiều hướng rất tích cực. Các tác nhân ảnh hưởng đến sự tăng trưởng hay tụt dốc được xác định bao gồm: thu nhập hộ gia đình, các chỉ số biểu thị xã hội và nhân khẩu học, chi phí cho quỹ tài trợ và các hợp đồng, tác động từ địa phương. Nhà nghiên cứu cũng đưa ra rằng lạm phát cao lên cũng có thể gây tác hại đến ngành và thị trường xây dựng, dẫn đến hậu quả nhu cầu mua bán bất động sản giảm đi tiến đến gây sức ép lên giá nhà bất động sản. Mehmood khan kakar và M.
Ali kakar (2011) đã phân tích nhân tố đô thị hóa, dòng người tị nạn, thiếu hụt nhân tố (phương án) đầu tư, cũng như ngoại hối và chính sách tiền tệ, và cuối cùng nhân tố bên trong là vị trí và cho thuê. Sự tăng giá căn hộ liên quan đến các cơ chế khác nhau, ví dụ như "kỳ vọng quá mức" về sự tăng giá trong tương lai, vượt qua cả những biến cố xã hội ( Shiller, 2003), hoặc chuyển nhượng tại giá giao dịch, liên kết với sự kết hợp giữa lạm phát và tiền tệ ảo giác (Brunnenmeier và Julliard, 2008). Ý kiến về tác động của chỉ số chứng khoán trong tương lai lên bất động sản rất khác nhau trong nghiên cứu. Một số nghiên cứu của Ambrose và Bian (2010), Cotter và Devaney (2001), kết luận là chiều hướng của mối quan hệ nhân quả giữa chỉ số bất động sản và chứng khoán khá yếu ớt.
Trong khi đó, Lee et al., (2012) cho thấy sự liên kết mạnh mẽ giữa Chỉ số Giao dịch Chứng khoán và bất động sản. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về hành vi mua nhà Nhân tố thị trường có ảnh hưởng đến giá bất động sản Định giá là một quá trình thấu hiểu các giá trị kết tinh của tài sản. Trong nghiên cứu của Richards (1996) về việc xác định giá trị đất bị ô nhiễm; kết quả cho thấy đất đai có giá trị thấp hơn bởi vì quá trình định giá phải kết hợp nhiều phương pháp thẩm định khác nhau (bao gồm sự kỳ thị) để khôi phục giá trị đất đai cho các hình thức sử dụng trong tương lai. Tất cả những điều này có liên quan rất nhiều đến hành vi của những người tham gia thị trường tác động đến giá trị tài sản.
Các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, nhà đầu cơ, người mua và người sử dụng đất có liên quan đáng kể đến các xu hướng tăng giá bất động sản. Trên thực tế, sự tham gia và tương tác giữa hai yếu tố cung và cầu của những người tham gia vào thị trường BĐS đã dẫn đến sự hình thành các khái niệm về hành vi ảnh hưởng đến quá trình tìm kiếm và quy trình định giá của thị trường (Daly và cộng sự, 2003). Các nhà đầu tư ngày càng hiểu biết sâu rộng hơn về nhu cầu và thị hiếu của khách hàng mua nhà và có thể và dự đoán được các dao động của thị trường bất động sản (Gibler & Nelson, 1998). Gibler và Nelson đã đề cập đến các môi trường vĩ mô và luan an 12 vi mô trong nghiên cứu hành vi khách mua nhà; trong đó các yếu tố vĩ mô thể hiện sự biến đổi nhân khẩu học của cả khu vực dẫn đến những thay đổi trong định giá tài sản, giá trị sử dụng, niềm tự hào về nơi ở; trong khi đó các yếu tố vi mô bao gồm hành vi và nhu cầu của khách hàng về nơi ở.
Không có nhiều tư liệu nghiên cứu về hành vi của khách hàng liên quan đến những quyết định ưu tiên lựa chọn về nơi ở. Bất chấp ý kiến cho rằng khách hàng luôn bị giới hạn các lựa chọn được chủ đầu tư định vị sẵn trong nội dung các bản hợp đồng; Khách hàng sẽ có nhiều cảm nhận tích cực về nơi ở trong tương lai khi được nhiều kênh truyền thông và các chính sách ưu đãi của chủ đầu tư đã kích hoạt nhu cầu ham muốn hưởng thụ chất lượng sống cao, và nhiều dự án BĐS được triển khai thì khách hàng càng có nhiều sự lựa chọn đa dạng hơn.