Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cùng với tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, có nhiều vấn đề các ngành kinh tế cũng như các doanh nghiệp sản xuất phải quan tâm để chọn được mục tiêu và chiến lược kinh doanh đúng đắn. Hiện nay, ngành công nghiệp sản xuất giấy là một trong những ngành được Chính phủ hết sức quan tâm. Tuy nhiên, ngành công nghiệp sản xuất giấy đang phải đối mặt với một loạt các thách thức để duy trì tính cạnh tranh trong một lĩnh vực mà chi phí nguyên liệu và năng lượng chiếm một phần rất lớn trong chi phí sản xuất. Thách thức lớn nhất hiện nay đó là giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả hoạt động cùng với các phương pháp xanh hơn để sản xuất giấy với chất lượng tốt, đồng thời tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về môi trường.
Mặt khác, ngành công nghiệp sản xuất giấy nước ta đang có nguy cơ thua ngay trên sân nhà khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế ngày càng sâu và rộng với khu vực và thế giới bởi giấy của các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonexia, Malaixia và các nước khác trên thế giới sẽ tràn vào Việt Nam, đe dọa sự sống còn của các doanh nghiệp sản xuất giấy nội địa. Để đứng vững và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất giấy Việt Nam phải có những biện pháp mang tính tổng lực nhằm tận dụng thời cơ và sức mạnh, đồng thời khắc phục khó khăn và thách thức. Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp sản xuất giấy Việt Nam đến năm 2025 với quan điểm chủ đạo phát triển ngành công nghiệp sản xuất giấy theo hướng hiện đại, bền vững gắn với nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Theo đó, đẩy mạnh áp dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm; giảm tiêu hao nguyên nhiên vật liệu, tiết kiệm năng lượng; tập trung xây dựng thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; huy động mọi nguồn lực xã hội để đầu tư, sản xuất; xây dựng các tập đoàn đủ mạnh, có tiềm năng tài chính, nhà máy có công suất lớn và chất lượng sản phẩm cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường, tăng khả năng xuất khẩu.
Quy hoạch cũng đặt ra các mục tiêu đến năm 2025, tỷ lệ thu hồi giấy các loại trong nước đạt 65%; đáp ứng khoảng 75-80% nhu cầu tiêu dùng trong nước, giảm tỷ lệ nhập khẩu; không cấp phép và dần loại bỏ các nhà máy giấy lạc hậu đang tồn tại với quy mô dưới 10. Mặc dù có thị trường khá rộng nhưng ngành công nghiệp sản xuất giấy là một trong số những ngành có mức độ cạnh tranh gay gắt, nhất là với các sản phẩm ngoại nhập. Hiện nay sức cạnh tranh của giấy nội với giấy ngoại rất thấp. Ngành công nghiệp sản xuất giấy Việt Nam có trình độ công nghệ lạc hậu, quy mô không lớn, giá giấy cao trong khi chất lượng giấy thấp chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước.
Trong khi đó, giấy ngoại nhập có sức cạnh tranh rất lớn, giá rẻ, chất lượng lại tốt hơn. Nhiều chuyên gia kinh 2 tế cho rằng đây cũng là khó khăn chung của ngành công nghiệp sản xuất giấy trong nước, tồn tại từ nhiều năm nay. Vấn đề lớn nhất của các doanh nghiệp nội địa là thiếu vốn cho đầu tư, nâng cấp trang thiết bị công nghệ, cùng với chi phí đầu vào biến động tăng không ngừng, dẫn đến sản phẩm có mẫu mã, chất lượng kém, giá thành cao. Do vậy để từng bước vượt qua khó khăn và phát triển, không còn cách nào khác là phải tận dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẵn có, đẩy mạnh nghiên cứu, sáng tạo nhằm tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành để cạnh tranh.
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận quan trọng của hệ thống KTQT doanh nghiệp, có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí nhằm mục tiêu lập dự toán, xây dựng định mức, kiểm soát chi phí, ra quyết định lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh tối ưu,…Để phục vụ tốt hơn cho việc quản trị chi phí ở các doanh nghiệp và đưa ra các quyết định hợp lý cần có sự hiểu biết đầy đủ, khoa học về bản chất, vai trò và nội dung của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, qua khảo sát sơ bộ, công tác kế toán chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất giấy ở Việt Nam hiện nay mới chỉ tập trung chủ yếu vào thông tin kế toán tài chính phục vụ cho việc lập các báo cáo tài chính. Việc cung cấp thông tin kế toán chi phí phục vụ cho việc ra các quyết định hay lập các kế hoạch sản xuất kinh doanh vẫn đang là vấn đề chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức. Điều này khiến cho các doanh nghiệp giấy ở Việt Nam khó có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh khu vực và thế giới.
Thêm vào đó, trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt vượt tầm biên giới quốc gia, KTQT chi phí ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nhà quản trị ra các quyết định hiệu quả. Tăng cường hệ thống KTQT chi phí trong các DNSX giấy nhằm hỗ trợ thông tin cho các nhà quản trị ra các quyết định là điều kiện cần thiết để sử dụng hiệu quả các nguồn lực, từ đó nâng cao vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp. Do vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu nhiên đến việc áp dụng KTQT chi phí trong các DNSX giấy để có các giải pháp tác động phù hợp giúp cho hệ thống KTQT chi phí trong các DNSX giấy được hoàn thiện trở thành yêu cầu và nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất giấy Việt Nam” nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản lý trong môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt cũng như tăng cường khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước tác động của cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra một cách sâu rộng trên phạm vi toàn cầu.
Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Nhân tố quan trọng dẫn đến sự thành bại của các doanh nghiệp trên thương trường chính là thông tin cung cấp cho các nhà quản trị để từ đó đưa ra quyết định tối ưu trong SXKD. Nền tảng cơ bản để doanh nghiệp giữ vững và phát triển vị thế của mình trên 3 thương trường chính là sử dụng KTQT chi phí. Các nghiên cứu cơ bản về KTQT chi phí đã được thực hiện từ rất sớm tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển với các phương pháp quản trị hiện đại, tiên tiến, sau đó được kế thừa và phát triển trên nhiều phương diện tại nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam. Các nghiên cứu về nội dung kế toán quản trị chi phí 2.
Nghiên cứu về nhận diện chi phí Tại Mỹ, vào những năm đầu của thế kỉ XIX, sự phát triển mạnh cả về quy mô và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp đặt ra yêu cầu cho các nhà quản trị phải kiểm soát và đánh giá được hoạt động của chúng. Hoạt động KTQT chi phí bắt đầu từng bước được áp dụng trong các ngành khác nhau. Thomas (1972) trong bài viết về kế toán chi phí phục vụ kiểm soát quản trị nội bộ đã chỉ ra một trong các doanh nghiệp áp dụng KTQT đầu tiên ở Mỹ là công ty dệt Lyman Mills. Để xác định được hiệu quả sản xuất của các sản phẩm cụ thể và đánh giá được kết quả hoạt động của các bộ phận, công ty này đã áp dụng hệ thống kế toán theo dõi tình hình sử dụng vật tư, chi phí nhân công và các chi phí trực tiếp phát sinh hàng ngày [73].
Theo Nguyễn Quốc Thắng (2011), chi phí trong doanh nghiệp được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau: Phân loại theo tính chất kinh tế, nội dung kinh tế ban đầu của chi phí; phân loại theo chức năng hoạt động; phân loại theo đầu vào của quá trình SXKD; phân loại theo mối quan hệ của chi phí với khoản mục trên báo cáo tài chính; phân loại theo mối quan hệ của chi phí và khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí; phân loại theo mối quan hệ của chi phí với khối lượng hoạt động và phân loại chi phí phục vụ ra quyết định. Kết quả khảo sát tại các doanh nghiệp giống cây trồng cho thấy các doanh nghiệp chỉ phân loại chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu của chi phí dưới góc độ phục vụ công tác kế toán tài chính. Mức độ coi trọng, đầu tư vào công tác phân loại chi phí phục vụ hạch toán nội bộ chưa cao. Để tăng cường chất lượng thông tin KTQT chi phí, tác giả đề xuất các doanh nghiệp ngành giống cây trồng áp dụng phân loại chi phí theo mối quan hệ của chi phí với mức độ hoạt động [37].
Theo Phạm Hồng Hải (2013), Hoàng Khánh Vân (2017), chi phí có thể được phân loại theo các tiêu thức như phân loại theo chức năng, phân loại theo mối quan hệ với mức độ hoạt động (theo cách ứng xử của chi phí), phân loại theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu phí, phân loại theo sự ảnh hưởng tới việc lựa chọn các phương án và phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát. Qua kết quả khảo sát tại các doanh nghiệp, các tác giả nhận định 100% các doanh nghiệp chỉ phân loại chi phí theo yếu tố chi phí và theo khoản mục chi phí trong giá thành nhằm phục vụ cho việc hạch toán chi phí, tính giá thành sản phẩm và lập báo cáo tài chính. Cách phân loại này chưa thực sự giúp cho việc quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Từ đó các tác giả đề xuất việc phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động để làm 4 cơ sở cho việc thực hiện các chức năng lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định quản lý.
Bên cạnh đó, các tác giả cũng đề xuất các doanh nghiệp trong ngành nghiên cứu vận dụng việc phân loại chi phí theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu phí để giúp nhà quản trị có thể đánh giá hiệu quả hoạt động của từng đối tượng, từ đó đưa ra được các quyết định phù hợp [22], [44].