Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất Chương 3: Thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp may khu vực phía Bắc Việt Nam Chương 5: Bàn luận và các khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu luan an 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chƣơng này, tác giả sẽ hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trƣớc đây có liên quan đến chủ đề của luận án. Các nghiên cứu đƣợc hệ thống hóa theo các nội dung của tổ chức KTQTCP, giá thành, đồng thời sắp xếp theo thời gian và kết hợp giữa các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Từ đó tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu cho đề tài nghiên cứu của mình. Các nghiên cứu về tổ chức và nội dung tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm 1.
Các nghiên cứu về tổ chức kế toán quản trị chi phí Các luận án nghiên cứu về tổ chức KTQT trong những năm gần đây đã góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của KTQT cũng nhƣ việc vận dụng KTQT vào các ngành, các loại hình DN. Đề tài tổ chức KTQT của tác giả Hoàng Văn Tƣởng (2010) tiếp cận tổ chức KTQT theo nội dung công việc, đi sâu vào các phần hành KTQT đặc biệt là phần hành KTQTCP và giá thành trong các DN xây lắp. Nghiên cứu đã chỉ ra sự kết hợp giữa mô hình KTQT truyền thống và mô hình KTQT hiện đại có tác dụng nâng cao khả năng cung cấp thông tin, tăng cƣờng quản lý hoạt động SXKD trong các DN xây lắp Việt Nam. Tuy nhiên, luận án chƣa làm sáng tỏ đƣợc khả năng đáp ứng của hệ thống KTQT với nhu cầu thông tin của nhà quản trị để công tác quản lý hoạt động SXKD đƣợc hiệu quả hơn.
Năm 2015, Phạm Thị Tuyết Minh nghiên cứu về “Tổ chức công tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty công nghiệp ô tô Việt Nam”, đã tiếp cận tổ chức công tác KTQT theo chức năng thông tin gồm các nội dung: xây dựng định mức và dự toán ngân sách, tổ chức thu nhận thông tin ban đầu về KTQT; tổ chức hệ thống hóa và xử lý thông tin KTQT; tổ chức lập báo cáo KTQT, phân tích và cung cấp thông tin KTQT. Song nghiên cứu vẫn chƣa làm sáng tỏ sự tác động và mối quan hệ của các nhân tố đến tổ chức KTQT trong các DN nghiên cứu. Cùng nghiên cứu về tổ chức KTQT, tác giả Bùi Tiến Dũng (2018) với đề tài về tổ chức KTQT tại các DN sản xuất Giấy Việt Nam đã tiếp cận tổ chức theo các nội dung: Tổ chức bộ máy KTQT; tổ chức KTQT phục vụ lập dự toán sản xuất kinh doanh; tổ chức KTQT cho mục tiêu kiểm soát chi phí và giá thành sản phẩm; tổ chức KTQT phục vụ đánh giá thành quả hoạt động trong DN; tổ chức KTQT hỗ trợ cho việc ra quyết định; và tổ chức KTQT hỗ trợ quản trị chiến lƣợc. Nghiên cứu đã sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phƣơng pháp định lƣợng để xem xét làm sáng tỏ các nhân tố ảnh hƣởng tới tổ chức KTQT cũng nhƣ tác động của tổ chức KTQT đến hiệu quả họạt động tại các doanh nghiệp khảo sát.
Ở giai đoạn này ngoài nghiên cứu của Hoàng Văn Tƣởng, Phạm Thị Tuyết Minh luan an 8 và Bùi Tiến Dũng về KTQT còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về một nội dung chuyên sâu của tổ chức KTQTCP, chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm vận dụng cho các DN, các ngành sản xuất đặc thù (Nguyễn Quốc Thắng, 2011; Nguyễn Hoản, 2012; Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2012; Nguyễn Đào Tùng, 2012; Nguyễn Thị Ngọc Thạch, 2013). Các nghiên cứu này chủ yếu tiếp cận dƣới góc độ KTQT truyền thống và tập trung vào các nội dung: Tổ chức bộ máy KTQT; tổ chức thu thập thông tin ban đầu KTQTCP và giá thành sản phẩm; tổ chức phân tích, xử lý và tổ chức cung cấp thông tin KTQTCP và giá thành sản phẩm, làm sáng tỏ các vấn đề: phân loại nhận diện chi phí và giá thành dƣới góc độ của KTQT, xây dựng hệ thống định mức và lập dự toán chi phí SXKD, các phƣơng pháp tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm theo mô hình truyền thống; tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán phục vụ cho KTQTCP giá thành; phân tích mối quan hệ chi phí, khối lƣợng, lợi nhuận (CVP). Các tác giả cũng đƣa ra nhận định với mô hình KTQT hiện đại kết hợp với mô hình KTQT truyền thống góp phần nâng cao khả năng xử lý, cung cấp thông tin phục vụ cho quá trình ra quyết định ngắn hạn và dài hạn của DN. Dựa trên nền tảng cơ sở lý luận đã trình bày các nghiên cứu đã mô tả lại thực trạng tổ chức KTQTCP, giá thành tại ở các DN, trên cơ sở đó đánh giá những ƣu điểm cũng nhƣ những hạn chế về tổ chức KTQTCP, giá thành đang thực hiện tại các DN khảo sát.
Các nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức KTQTCP, chi phí giá thành phù hợp với các DN mà tác giả nghiên cứu, vì thế tính khái quát hóa có phần hạn chế. Dƣới góc độ nghiên cứu về tổ chức thông tin KTQTCP tác giả Hồ Mỹ Hạnh (2014), tiếp cận tổ chức hệ thông thông tin KTQTCP theo chức năng của hệ thống thông tin gồm: Tổ chức hệ thống thông tin dự toán chi phí; chức hệ thống thông tin chi phí thực hiện; tổ chức hệ thống thông tin kiểm soát chi phí và phân tích chi phí; và tổ chức bộ máy KTQTCP. Nghiên cứu của Nguyễn Thành Hƣng (2017) về “Tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam” đã tiếp cận nội dung tổ chức hệ thống thông tin KTQTCP trong DN theo quá trình tạo lập thông tin. Luận án đã xác định các nhân tố và mức độ ảnh hƣởng đến tổ chức hệ thống thông tin KTQTCP trong các DN viễn thông, gồm các nhân tố: chất lƣợng dữ liệu đầu vào, nguồn nhân lực kế toán, tầm nhìn và cam kết của nhà quản trị.
Từ đó, có các tác động thích hợp để nâng cao hiệu quả tổ chức hệ thống thông tin KTQTCP trong các DN viễn thông Việt Nam. Có thể nhận thấy trong những năm gần đây, các nghiên cứu về tổ chức KTQTCP đƣợc thực hiện ở rất nhiều ngành, góp phần rất lớn vào việc hoàn thiện tổ chức KTQTCP tại các DN, giúp tăng cƣờng hoạt động quản lý sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh cho DN. Các nghiên cứu về nội dung tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành Trong những thập niên gần đây, trên thế giới và ở Việt Nam KTQT, tổ chức KTQTCP, giá thành sản phẩm đƣợc nhiều nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu và áp dụng. Trong đó các nhà nghiên cứu xoay quanh một số vấn đề chính với những góc nhìn và phƣơng pháp tiếp cận khác nhau nhƣ nhận diện chi phí; dự toán, định mức chi phí; các phƣơng pháp xác định chi phí cho đối tƣợng chịu chi phí làm cơ sở tính toán giá thành sản phẩm; phân tích chi phí, giá thành để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất; sử dụng thông tin KTQTCP, giá thành phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị.
Dƣới đây là một số nội dung điển hình trong nghiên cứu của các tác giả. Nghiên cứu về nhận diện chi phí và phân loại chi phí Để xây dựng định mức và lập dự toán chi phí thì cần quan tâm đến các loại chi phí, phân loại chi phí tƣơng ứng theo các nhóm và các tiêu thức phù hợp. Một số tác giả đã đề cập đến cách nhận diện các loại chi phí nhƣ sau: Nghiên cứu của Michael W Maher (2000) về “Managament accounting education at the Millennium”, đã chỉ ra tổ chức KTQTCP định hƣớng cho việc kiểm soát chi phí trong tổ chức, có thể dùng ba cách phân loại chi phí điển hình bao gồm: Chi phí chênh lệch; chi phí toàn bộ và chi phí trách nhiệm. Từ đó tác giả xác định các quy trình phân tích thông tin chi phí thông qua báo cáo phân tích chi phí, báo cáo trách nhiệm quản lý chi phí.
Đây là cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận trong tổ chức góp phần vào công tác kiểm soát chi phí của tổ chức đó. Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Thắng (2010), Nguyễn Hoản (2012), Trần Thị Thu Hƣờng (2014), Đinh Thị Kim Xuyến (2014) về cách nhận diện chi phí ở các DN thuộc ngành nông nghiệp, sản xuất bánh kẹo, sản xuất xi măng, DN viễn thông đã chỉ ra rằng các DN mới chỉ tiến hành phân loại chi phí theo công dụng của chi phí. Giá thành sản phẩm đƣợc phân loại thành giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ. Các tác giả nhận định hầu hết các DN chƣa thực hiện phân loại chi phí theo định phí, biến phí hay phân loại chi phí theo mức độ kiểm soát chi phí của nhà quản trị DN.
Việc phân loại chi phí theo khoản mục chi phí mới chỉ đáp ứng đƣợc yêu cầu của KTTC, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của KTQT. Trong nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Ngọc Lan (2012), với lĩnh vực đặc thù là vận tải hàng hóa, DN đã phân loại chi phí theo mối quan hệ chi phí với mức độ hoạt động. Căn cứ để phân loại chi phí là biến phí hay định phí là dựa trên số km hoặc tấn/km vận chuyển. Phƣơng pháp phân loại này đã gắn liền chi phí với các hoạt động tại DN vận tải nên đáp ứng khá tốt yêu cầu quản lý tại các DN vận tải đƣờng bộ.
Các tác giả nghiên cứu ở trên cũng đề xuất phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động, chia thành: chi phí biến đổi, chi phí cố định và chi phí hỗn hợp. Song các tác giả cũng chƣa chỉ ra cụ thể việc tách các chi phí hỗn hợp theo đặc thù của ngành sản xuất cần sử dụng phƣơng pháp nào là tốt nhất, điều kiện thực hiện phƣơng pháp đó nhƣ thế nào. Ở góc độ quản lý và kiểm soát chi phí theo các trung tâm chi phí tác giả Trần Thị Thu Hƣờng (2014) đề xuất phân loại chi phí thành chi phí kiểm soát đƣợc và chi phí không kiểm soát đƣợc, để gắn trách nhiệm luan an 10 kiểm soát chi phí cho từng trung tâm chi phí.