CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP 1.Cơ sở lý luận về kế toán tài sản cố định trong doanh nghiệp 1.Đặc điểm kế toán tài sản cố định trong doanh nghiệp 1.Khái niệm Tài sản cố định (TSCĐ) là tư liệu lao động, là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Song không phải tất cả các tư liệu lao động trong doanh nghiệp đều là tài sản cố định mà tài sản cố định chỉ gồm những tư liệu chủ yếu có đủ tiêu chuẩn về mặt giá trị và thời gian sử dụng quy định trong chế độ tài chính hiện hành của Nhà nước. [Nguồn: Giáo trình kế toán doanh nghiệp tài chính_PGS.TS Ngô Thế Chi] Các TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể gọi là TSCĐ hữu hình, còn các tài sản chỉ tồn tại dưới hình thức giá trị được gọi là TSCĐ vô hình. TSCĐ hữu hình là tài sản có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ (theo chuẩn mực kế toán Việt Nam).
TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ. TSCĐ thuê tài chính là TSCĐ mà doanh nghiệp đi thuê dài hạn và được bên cho thuê chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu, tiền thu về cho thuê đủ cho người cho thuê trang trải được chi phí của tài sản cộng với các khoản lợi nhuận từ đầu tư đó. [Nguồn: Giáo trình kế toán doanh nghiệp tài chính_PGS.TS Ngô Thế Chi] 1.Đặc điểm tài sản cố định Theo Thông tư Số 45/2013/TT-BTC của Bộ tài chính quy định, Tài sản cố định có những đặc điểm nổi bật sau: 5 - Quy định Điều kiện tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định cụ thể như sau: * Tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định hữu hình: Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thoả mãn đồng thời tất cả bốn tiêu chuẩn ghi nhận sau: + Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; + Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; + Có thời gian sử dụng ước tính 1 năm trở lên; + Có giá trị từ 30.000 đồng (ba mươi triệu đồng) trở lên. * Tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vô hình: - Tất cả các khoản chi phí thực tế mà DN đã chi ra nếu thoả mãn đồng thời cả 3 tiêu chuẩn trên, mà không phải là TSCĐ hữu hình thì được coi là TSCĐ vô hình.
- Những khoản chi phí không đồng thời thoả mãn cả 3 tiêu chuẩn trên thì được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. - Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận là TSCĐ vô hình tạo ra từ nội bộ DN nếu thỏa mãn đồng thời bảy điều kiện sau: a) Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa tài sản vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán; b) Doanh nghiệp dự định hoàn thành tài sản vô hình để sử dụng hoặc để bán; c) Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó; d) Tài sản vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai; đ) Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô hình đó; e) Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra tài sản vô hình đó; g) Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho tài sản cố định vô hình.Phân loại tài sản cố định Tổ chức phân loại TSCĐ là căn cứ vào những tiêu thức nhất định để phân chia TSCĐ thành từng loại, từng nhóm phù hợp với yêu cầu quản lý và hạch toán TSCĐ. Đối với DNSX, việc phân loại đúng đắn TSCĐ là cơ sở để thực hiện chính xác công tác kế toán, thốn kê, lập báo cáo về TSCĐ để tổ chức quản lý sử dụng TSCĐ thích ứng với vị trí vai trò của từng TSCĐ hiện có trong DN. Từ đó có kế hoạch chính xác trong việc trang bị, đổi mới từng loại TSCĐ đáp ứng yêu cầu phát triển ản xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN TSCĐ trong doanh nghiệp có công dụng khác nhau trong hoạt động kinh doanh, để quản lý tốt cần phải phân loại TSCĐ.
Phân loại TSCĐ là việc sắp xếp các TSCĐ trong doanh nghiệp thành các loại, các nhóm TSCĐ có cùng tính chất, đặc điểm theo những tiêu thức nhất định. Trong doanh nghiệp thường phân loại TSCĐ theo một số tiêu thức sau: Theo hình thái biểu hiện Theo cách phân loại này căn cứ vào hình thái biểu hiện của TSCĐ chia ra tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. * Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận là TSCĐ hữu hình. * Tài sản cố định vô hình: Là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ sử dụng trong sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình.
* TSCĐ hữu hình được chia thành các nhóm sau: - Nhà cửa vật kiến trúc: gồm nhà làm việc, nhà xưởng, nhà ở, nhà kho, cửa hàng,. - Máy móc, thiết bị: gồm máy móc, thiết bị động lực, máy móc thiết bị công tác, máy móc thiết bị khác dùng trong sản xuất kinh doanh. - Phương tiện vận tải, truyền dẫn. 7 - Thiết bị dụng cụ quản lý: Gồm các thiết bị sử dụng trong quản lý kinh doanh, quản lý hành chính.
- TSCĐ hữu hình khác: bao gồm các TSCĐ chưa được xếp vào nhóm tài sản trên. * TSCĐ vô hình được chia thành các nhóm sau: - Quyền sử dụng đất có thời hạn: Là giá trị mặt đất hình thành do phải bỏ chi phí để mua, đền bù san lấp, cải tạo nhằm mục đích có mặt bằng trong sản xuất kinh doanh. - Nhãn hiệu hàng hóa: Chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để được quyền sử dụng một loại nhãn hiệu thương hiệu nào đó. - Phần mềm máy vi tính: Là giá trị của phần mềm máy vi tính do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua hoặc tự xây dựng, sáng chế.
- Bản quyền, bằng sáng chế: Giá trị bằng phát minh, sáng chế là các chi phí mà doanh nghiệp phải trả cho các công trình nghiên cứu, sản xuất thử được Nhà nước cấp bằng. - Giấy phép và giấy chuyển nhượng quyền: Là chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được các loại giấy phép, giấy nhượng quyền để doanh nghiệp có thể thực hiện các nghiệp vụ nhất định. - TSCĐ vô hình đang triển khai. - Cách phân loại tài sản này giúp cho việc quản lý và hạch toán chi tiết TSCĐ lựa chọn phương pháp cách thức khấu hao thích hợp đặc điểm kỹ thuật của từng nhóm TSCĐ.
Theo quyền sở hữu Căn cứ quyền sở hữu TSCĐ của doanh nghiệp sản xuất thì TSCĐ thuộc loại TSCĐ tự có. TSCĐ tự có: Là các TSCĐ được xây dựng, mua sắm và hình thành từ nhiều nguồn ngân sách cấp, cấp trên cấp, nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các TSCĐ được biếu tặng. Đây là những TSCĐ thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Đối với TSCĐ này doanh nghiệp được quyền 8 định đoạt như nhượng bán, thanh lý.trên cơ sở chấp hành đúng thủ tục theo quy định của Nhà nước.
Theo nguồn hình thành Theocách phân loại này TSCĐ được chia thành các loại sau: - TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn được cấp. - TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn vay. - TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng nguồn tự bổ sung của đơn vị. - TSCĐ hình thành do nhận góp vốn liên doanh, liên kết với các đơn vị trong nước và nước ngoài.
Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành, cung cấp được các thông tin về cơ cấu nguồn vốn hình thành TSCĐ. Từ đó có phương hướng sử dụng nguồn vốn khấu hao TSCĐ một cách hiệu quả và hợp lý. Theo công dụng kinh tế và tình hình sử dụng Đây là một hình thức phân loại rất hữu ích và tiện lợi cho việc phân bổ khấu hao và tài khoản chi phí phù hợp. Theo tiêu thức này, TSCĐ được phân thành: - TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh: Là những TSCĐ đang thực tế sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Những tài sản này bắt buộc phải trích khấu hao vào chi phí sản xuất kinh doanh. - TSCĐ dùng trong mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng: Là những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý sử dụng cho các mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng trong doanh nghiệp. - TSCĐ chờ xử lý: Bao gồm các TSCĐ không cần dùng, chưa cần dùng vì thừa so với nhu cầu sử dụng hoặc không thích hợp với sự đổi mới quy trình công nghệ, bị hư hỏng chờ thanh lý, TSCĐ tranh chấp chờ giải quyết, những TSCĐ này cần xử lý nhanh chóng để thu hồi vốn sử dụng cho việc đầu tư đổi mới TSCĐ. [Nguồn: Giáo trình kế toán doanh nghiệp tài chính_PGS.TS Ngô Thế Chi] 9 1.Đánh giá tài sản cố định Đánh giá TSCĐ là việc xác định giá trị ghi sổ của TSCĐ.
TSCĐ được đánh giá lần đầu và có thể đánh giá lại trong quá trình sử dụng. TSCĐ được đánh giá theo nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại theo công thức Giá trị còn lại = Nguyên giá – Giá trị hao mòn Nguyên giá tài sản cố định Nguyên giá hay giá trị ban đầu của TSCĐ là toàn bộ các chi phí hợp lí mà DN chi ra để có được tài sản đó và đưa TSCĐ đó vào vị trí sẵn sàng sử dụng.