Luận văn ThS Nguyễn Trung Thành: Nâng cao chất lượng tín dụng Agribank Ngọc Lặc

Phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại Agribank Ngọc Lặc, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

Trường đại học

Đại học Công nghệ Đông Á

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

134
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất Agribank Ngọc Lặc

Chất lượng tín dụng hộ sản xuất là yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại nông nghiệp. Agribank Chi nhánh huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn cho các hộ sản xuất trên địa bàn. Thị trường nông thôn là thị trường chiến lược của Agribank kể từ ngày thành lập. Các hộ sản xuất tiến hành hoạt động kinh doanh trong nhiều lĩnh vực với quy mô nhỏ nhưng năng động, dễ dàng nắm bắt thay đổi của thị trường. Việc nâng cao chất lượng tín dụng giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro, đồng thời hỗ trợ hộ sản xuất phát triển kinh tế bền vững. Nghiên cứu về chủ đề này xuất phát từ luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của Trường Đại học Công nghệ Đông Á năm 2020, tập trung đánh giá toàn diện thực trạng và đề xuất giải pháp cải thiện chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất tại chi nhánh Ngọc Lặc.

1.1. Vai trò của Agribank huyện Ngọc Lặc trong phát triển nông thôn

Agribank Chi nhánh huyện Ngọc Lặc thực hiện chương trình tín dụng vốn hộ sản xuất kinh doanh từ năm 2007 theo Quyết định 31/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Chương trình nhằm giúp vốn cho các hộ gia đình tại vùng khó khăn phát triển kinh tế. Ngân hàng chủ động tham mưu với Ban Giám đốc chi nhánh tỉnh, giao chỉ tiêu kế hoạch cho các huyện, thành phố. Phòng giao dịch các huyện phối hợp với tổ chức hội nhận ủy thác, UBND các xã triển khai thực hiện. Nguồn vốn chương trình kịp thời đến các hộ có nhu cầu vay, góp phần nâng cao thu nhập và xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Ngọc Lặc.

1.2. Hộ sản xuất và nhu cầu tín dụng trong nền kinh tế thị trường

Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ với quy mô nhỏ và bộ máy quản lý gọn nhẹ. Trong nền kinh tế thị trường, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt buộc các hộ phải chuyên môn hóa sản xuất. Nhu cầu vay vốn phục vụ mở rộng sản xuất, mua sắm vật tư, máy móc ngày càng tăng. Các hộ sản xuất cần nguồn vốn ổn định để cải tiến kỹ thuật quản lý, hạ giá thành sản phẩm và tăng sức mạnh cạnh tranh. Phát triển kinh tế hộ sản xuất còn đảm bảo an toàn lương thực, tạo công ăn việc làm và giữ gìn trật tự xã hội tại nông thôn.

II. Phân tích thực trạng tín dụng hộ sản xuất tại Agribank Ngọc Lặc

Thực trạng tín dụng hộ sản xuất tại Agribank Chi nhánh huyện Ngọc Lặc cho thấy nhiều kết quả tích cực song vẫn tồn tại hạn chế. Chỉ tính riêng trong 10 tháng năm 2018, doanh số tín dụng chương trình đạt 362,2 tỷ đồng. Nhiều hộ dân đã sử dụng vốn vay hiệu quả, đúng mục đích, từng bước nâng cao thu nhập. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức đáng lo ngại do một số hộ chưa có khả năng trả nợ đúng hạn. Công tác thẩm định hồ sơ đôi khi chưa chặt chẽ, dẫn đến rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, năng lực cán bộ tín dụng tại một số điểm giao dịch còn hạn chế trong việc đánh giá khả năng sản xuất của hộ vay. Sự phối hợp giữa ngân hàng với chính quyền địa phương và các tổ chức hội nhận ủy thác chưa đồng đều ở tất cả các xã trên địa bàn huyện.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng hộ sản xuất

Chất lượng tín dụng hộ sản xuất chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Yếu tố chủ quan bao gồm năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng, trình độ cán bộ tín dụng và quy trình thẩm định. Yếu tố khách quan gồm biến động thời tiết, thiên tai ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, biến động giá cả thị trường đầu ra. Ngoài ra, trình độ dân trí và ý thức trả nợ của hộ vay cũng tác động lớn đến chất lượng tín dụng. Chính sách hỗ trợ nông nghiệp nông thôn từ Nhà nước cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng tại khu vực này.

2.2. Kết quả hoạt động tín dụng hộ sản xuất giai đoạn gần đây

Hoạt động tín dụng hộ sản xuất tại Agribank huyện Ngọc Lặc đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận trong giai đoạn nghiên cứu. Doanh số cho vay tăng trưởng ổn định qua các năm, đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn của hộ sản xuất trên địa bàn. Nhiều hộ gia đình từ khó khăn đã vươn lên thoát nghèo nhờ sử dụng vốn vay đúng mục đích. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ quá hạn vẫn tồn tại ở một số xã vùng sâu, vùng xa. Công tác thu hồi nợ gặp khó khăn do hộ vay thiếu tài sản đảm bảo hoặc sản xuất bị thiệt hại do thiên tai. Kết quả này phản ánh cả thành công lẫn thách thức trong hoạt động tín dụng nông thôn.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất Agribank Ngọc Lặc

Để nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất, Agribank Chi nhánh huyện Ngọc Lặc cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước tiên, ngân hàng cần hoàn thiện quy trình thẩm định hồ sơ vay vốn, tăng cường đánh giá khả năng sản xuất kinh doanh thực tế của hộ vay. Công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ tín dụng cần được đẩy mạnh. Ngân hàng nên xây dựng hệ thống quản lý rủi ro hiệu quả, phân loại nợ chính xác để có biện pháp xử lý kịp thời. Tăng cường sự phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức hội nhận ủy thác trong việc tuyên truyền và giám sát sử dụng vốn vay. Đa dạng hóa sản phẩm tín dụng phù hợp với đặc điểm sản xuất từng vùng. Áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý hồ sơ tín dụng giúp tiết kiệm thời gian và nâng cao hiệu quả quản trị. Những giải pháp này cần được thực hiện liên tục, có lộ trình cụ thể để đạt hiệu quả bền vững.

3.1. Hoàn thiện quy trình thẩm định và quản lý rủi ro tín dụng

Hoàn thiện quy trình thẩm định là giải pháp cốt lõi nâng cao chất lượng tín dụng. Agribank huyện Ngọc Lặc cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hộ vay toàn diện hơn, bao gồm khả năng tài chính, kế hoạch sản xuất và uy tín trả nợ. Công tác kiểm tra sau cho vay cần được tăng cường nhằm phát hiện sớm rủi ro. Ngân hàng nên áp dụng phân loại nợ tự động theo tiêu chuẩn quốc tế để quản lý chính xác chất lượng danh mục tín dụng. Việc xây dựng cơ chế cảnh báo rủi ro sớm giúp cán bộ tín dụng kịp thời xử lý các khoản nợ có nguy cơ chuyển nhóm. Đào tạo cán bộ về kỹ năng phân tích tài chính hộ gia đình cũng cần được ưu tiên.

3.2. Tăng cường phối hợp với chính quyền và tổ chức hội nhận ủy thác

Sự phối hợp giữa Agribank với chính quyền địa phương và các tổ chức hội nhận ủy thác đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng tín dụng. Ngân hàng cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ với UBND các xã trong việc rà soát, xác nhận đối tượng vay vốn. Tổ tiết kiệm vay vốn tại thôn, xã cần được củng cố và nâng cao vai trò giám sát cộng đồng. Các tổ chức hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ tham gia tích cực hơn vào công tác tuyên truyền, hướng dẫn hộ vay sử dụng vốn đúng mục đích. Phối hợp tổ chức tập huấn kiến thức sản xuất kinh doanh cho hộ vay giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và khả năng hoàn trả nợ.

IV. Kết luận và ứng dụng nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất

Nghiên cứu nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại Agribank Chi nhánh huyện Ngọc Lặc mang lại nhiều giá trị thực tiễn. Kết quả nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của hoạt động tín dụng nông thôn đối với phát triển kinh tế hộ sản xuất. Các giải pháp đề xuất tập trung vào hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, nâng cao năng lực cán bộ và tăng cường phối hợp liên ngành.Ứng dụng thực tiễn cho thấy khi ngân hàng triển khai đồng bộ các giải pháp, chất lượng tín dụng cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ nợ xấu giảm, doanh số cho vay tăng trưởng bền vững và đời sống hộ sản xuất được nâng cao. Mô hình nghiên cứu tại huyện Ngọc Lặc có thể áp dụng cho các chi nhánh Agribank khác tại các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa và các tỉnh có điều kiện kinh tế xã hội tương tự. Phát triển kinh tế hộ sản xuất góp phần đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm và ổn định trật tự xã hội nông thôn.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu có ý nghĩa lý luận quan trọng trong việc hệ thống hóa cơ sở khoa học về tín dụng hộ sản xuất tại ngân hàng thương mại nông nghiệp. Luận văn tổng hợp các tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng và phân tích yếu tố ảnh hưởng một cách có hệ thống. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho Ban Giám đốc Agribank huyện Ngọc Lặc trong việc hoạch định chiến lược phát triển tín dụng nông thôn. Các số liệu phân tích về doanh số cho vay, tỷ lệ nợ xấu và hiệu quả sử dụng vốn giúp ngân hàng đánh giá chính xác thực trạng hoạt động. Từ đó đưa ra quyết định kinh doanh phù hợp với điều kiện thực tế địa phương.

4.2. Khuyến nghị và hướng phát triển trong tương lai

Để phát triển bền vững tín dụng hộ sản xuất, Agribank huyện Ngọc Lặc cần theo đuổi nhiều khuyến nghị chiến lược. Ngân hàng nên đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý tín dụng nông thôn, giảm thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho hộ vay. Xây dựng sản phẩm tín dụng linh hoạt phù hợp với chu kỳ sản xuất nông nghiệp từng mùa vụ. Tăng cường hợp tác với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị nông sản để hỗ trợ hộ sản xuất tiếp cận thị trường. Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tín dụng nông thôn thông qua đào tạo thường xuyên. Chính sách lãi suất ưu đãi cần gắn liền với đánh giá hiệu quả sử dụng vốn để khuyến khích hộ vay sản xuất có trách nhiệm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Luan van thanhda sua

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT 1. Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá.

Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường – thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM như: Ở Mỹ: “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Việt Nam, ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận.”Định nghĩa này được trích từ Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.

Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định 8 chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Vai trò ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế Với nền kinh tế hội nhập và phát triển như hiện nay, ngân hàng thương mại ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết. Ngân hàng thương mại thông qua việc thực hiện chức năng, vai trò của mình nhất là chức năng trung gian tín dụng đã trở thành một bộ phận thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Sự đóng góp này thể hiện thể hiện này của tổng quan theo quy định như sau: Thứ nhất, ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế để đầu tư vào sản xuất kinh doanh và nhu cầu chi tiêu khác. Hiện nay, với vai trò cầu nối, ngân hàng thương mại đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế bằng cơ chế tiền gửi có kỳ hạn và không có kì hạn, rồi tái phân phối cho nền kinh tế quốc dân, đáp ứng đầy đủ và kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Thứ hai, ngân hàng thương mại hỗ trợ Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Các ngân hàng thương mại thực hiện đúng chức năng của mình để hướng tới mục tiêu lợi nhuận cho chính ngân hàng đồng thời góp phần thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia như ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế.

Ngân hàng thương mại ngày càng phát huy được vai trò công cụ đòn bẩy của nó trong việc thực thi chính sách tiền tệ tín dụng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo như những mục tiêu đã hoạch định. Chẳng hạn, việc xoá bỏ cơ chế lãi suất “trần”, “sàn”, thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản, rồi chuyển sang cơ chế lãi suất thoả thuận đã giúp cho các tổ chức tín dụng linh hoạt hơn trong điều 9 hành lãi suất, ưu đãi tín dụng lãi suất thấp hơn, khuyến khích xuất khẩu, góp phần thực hiện mục tiêu hướng mạnh về xuất khẩu như chính sách đã đề ra. Thứ ba, ngân hàng thương mại góp phần phân bổ, điều hoà vốn giữa các ngành, các vùng trong nền kinh tế quốc dân, do đó tạo nên sự phát triển nhanh, cho các ngành, vùng trong một nước. Để tạo đồng đều cân bằng về vốn giữa các ngành, vùng trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại sẽ đứng ra thực hiện chức năng của mình, thu hút vốn thừa ở các ngành, vùng có nhiều nguồn vốn nhàn rỗi chuyển sang các ngành, vùng đang có nhu cầu sử dụng vốn.

Thứ tư, ngân hàng thương mại góp phần tăng cường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường. Tín dụng ngân hàng là nguồn vốn chủ yếu bổ sung vốn lưu động (ngắn hạn) cho các tổ chức kinh tế mua nguyên vật liệu để tiến hành sản xuất kinh doanh và hoạt động ngân hàng đã góp phần làm biến đổi các điều kiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các chủ thể kinh tế theo hướng tối ưu, nhất là đảm bảo các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” qua một hệ thống đồng bộ về vốn. Thứ năm, ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các nước, thúc đẩy phát triển ngoại thương, công nghiệp và các ngành có liên quan. Cùng với xu hướng hội nhập, khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, các quốc gia trên thế giới không ngừng mở rộng giao lưu, buôn bán, hợp tác tương trợ lẫn nhau.

Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, quan hệ tín dụng với ngân hàng nước ngoài ngày càng được tăng cường, hệ thống ngân hàng đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế. Tóm lại, ngân hàng thương mại có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế hiện nay. Ngân hàng thương mại ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành, phát triển, chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, 10 hiện đại hoá ở nước ta, làm cho nền kinh tế tăng trưởng mạnh, từ đó tạo động lực thúc đẩy quy mô tín dụng ngân hàng, giảm bớt rủi ro xảy ra. Điều này cần được nhận thức và quán triệt xuyên suốt trong quá trình hoạch định chính sách về vốn, phương thức và cơ chế hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Hoạt động của hàng thương mại Ngân hàng thương mại hiện đại hoạt động với ba hoạt động chính đó là: hoạt động huy động vốn, hoạt động cấp tín dụng và hoạt động cung ứng dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ tư vấn, thanh toán hộ, giữ hộ. Ba hoạt động này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các NHTM, các nghiệp vụ này đan xen lẫn nhau, tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM. Hoạt động huy động vốn Nghiệp vụ tiền gửi Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động ngân hàng nhận các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp vào để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản. Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng thương mại.

Ngân hàng thương mại thu hút tiền gửi của khách hàng thông qua các hình thức huy động hết sức đa dạng và phong phú đó là: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm… của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, dân cư và các tổ chức tín dụng khác. Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính thời hạn tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư, khả năng cung cấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn cho nền kinh tế. Hơn nữa, nghiệp vụ này còn giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro 11 và tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh của mình. Nghiệp vụ đi vay Để đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của mình khi khả năng huy động vốn bị hạn chế, ngân hàng thương mại còn phải đi vay các tổ chức tín dụng khác trên thị trường tiền tệ, vay trên thị trường vốnhoặc vay ngân hàng Nhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo.

Trong đó các khoản vay từ ngân hàng Nhà nước là chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi mà nó không tự cân đối được nguồn vốn. - Nghiệp vụ huy động vốn khác Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể tạo vốn kinh doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM, thường để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các ngân hàng phải lập ra các dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay. Hoạt động cấp tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa.

Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Theo mục 14, điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” Đây là hoạt động phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các mục đích khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận. Cấp tín dụng bao gồm các nghiệp vụ chính sau: 12 - Nghiệp vụ tín dụng Tín dụng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định cho thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ