phần mở đầu và kết luận , phần nội dung của luận văn được chia thành 3 chương: Chƣơng I : Lý luận chung về công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất Chƣơng II : Thực tế công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần Việt Xô. Chƣơng III : Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần Việt Xô. Do trình độ và thời gian thực tập có hạn, công tác quản lý hạch toán nguyên vật liệu rất phức tạp nên bản luận văn mới chỉ đi vào tìm hiểu một số vấn đề chủ yếu và chắc chắn còn nhiều thiếu sót , vì vậy em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo để bài luận văn của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Lương Thị Huyên – MSV: 1364010031 - Lớp QTL 302K 5 Khoá luận tốt nghiệp - Trường ĐHDL Hải Phòng CHƢƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất 1.1 Khái niệm nguyên vật liệu Nguyên vật liệu là đối tượng lao động , là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh , tham gia trực tiếp và thường xuyên vào quá trình sản xuất sản phẩm và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm đầu ra.
Nguyên vật liệu tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định , và khi tham gia vào quá trính sản xuất, dưới tác động của sức lao động và máy móc thiết bị, chúng bị tiêu hao hoàn toàn hoặc bị thay đổi hình thái ban đầu để tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm. Do vậy nguyên vật liệu được coi là yếu tố hàng đầu không thể thiếu của bất kỳ quá trình hình thành sản phẩm mới trong doanh nghiệp sản xuất. Theo chuẩn mực kế toán số 02 thì hàng tồn kho là những tài sản: - Được giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường - Đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang - Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ. Nguyên vật liệu là một bộ phận của hàng tồn kho, là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia thường xuyên và trực tiếp vào quá trình sản xuát sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản xuất sản phẩm.2 Đặc điểm của nguyên vật liệu - Tham gia vào một chu kỳ sản xuất chế tạo sản phẩm và cung cấp dịch vụ - Khi tham gia vào quá trình sản xuất nguyên vật liệu thay đổi hoàn toàn hình thái vật chất ban đầu và giá trị được chuyển toàn bộ, một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Lương Thị Huyên – MSV: 1364010031 - Lớp QTL 302K 6 Khoá luận tốt nghiệp - Trường ĐHDL Hải Phòng Thông thường trong cấu tạo giá thành sản phẩm thì chi phí về nguyên liệu chiếm tỷ trọng khá lớn, nên việc sủ dụng tiết kiệm, đúng mục đích, và đúng kế hoạc nguyên vật liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc hạ thấp giá thành sản phẩm và thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh.3 Vai trò , vị trí của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất. Trong doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu là một bộ phận của hàng tồn kho thuộc tài sản lưu động của doanh nghiệp , đồng thời là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất sản phẩm. Nguyên vật liệu có đặc điểm là bị hao mòn toàn bộ và chuyển một lần giá trị vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, do vậy việc cung cấp nguyên vật liệu đầy đủ, kịp thời cả về số lượng, chất lượng thì việc sản xuất mới trôi chảy, không bị gián đoạn, sản phẩm sản xuất ra mới được hoàn thành đúng tiến độ kế hoạch và đảm bảo chất lượng tốt nhất. Vấn đề được các doanh nghiệp sản xuất quan tâm hàng đầu đó là nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản xuất.
Chi phí nguyên vật liệu có ảnh hưởng không nhỏ tới sự biến động của giá thành. Một biến động nhỏ về chi phí nguyên vật liệu cũng kéo theo biến động về giá thành của sản phẩm, ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.2 Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu 1.1 Phân loại nguyên vật liệu Phân loại vật liệu là việc nghiên cứu, sắp xếp các vật liệu theo công dụng, nội dung, chủng loại, tính chất, thương phẩm của chúng nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý doanh nghiệp một cách chặt chẽ và chi tiết. Tùy thuộc vào các loại hình doanh nghiệp sản xuất cụ thể thuộc từng ngành sản xuất, tùy thuộc vào nội dung kinh tế, chức năng của vật liệu mà có nhiều cách phân loại khác nhau. Lương Thị Huyên – MSV: 1364010031 - Lớp QTL 302K 7 Khoá luận tốt nghiệp - Trường ĐHDL Hải Phòng 1.1 Phân loại theo nội dung kinh tế Theo nội dung kinh tế, nguyên vật liệu được chia thành các loại như sau: - Nguyên vật liệu chính: Là những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì cấu thành thực thể vật chất, thực thể chính của sản phẩm.
Ví dụ : sắt thép trong các doanh nghiệp chế tạo máy, xây dựng cơ bản… vải trong doanh nghiệp may mặc, bông trong các doanh nghiệp sản xuất sợi vải. Nguyên vật liệu chính còn bao gồm nửa thành sản phẩm mua ngoài để tiếp tục sản xuất chế tao sản phẩm, Ví dụ xi măng trong các doanh nghiệp xây dựng. - Vật liêu phụ : Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trính sản xuất không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà có thể kết hợp với vật liệu chính để hoàn thiện và nâng cao tính năng, chất lượng của sản phẩm, để phục vụ cho quá trình lao động, hoặc được sử dụng cho yêu cầu kỹ thuật, công nghệ… - Nhiên liệu: Là loại có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất, kinh doanh tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thường. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, thể rắn và thể khí.
- Phụ tùng thay thế: Là những vật liệu dùng để thay thế, sửa chữa máy móc , thiết bị, phương tiện vận tải , công cụ dụng cụ sản xuất… - Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những loại vật liệu , thiết bị sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản, tái tạo tài sản cố định… - Vật liệu khác: Là các loại vật liệu đặc trưng của từng doanh nghiệp hoặc phế liệ thu hồi.2 Phân loại theo nguồn nhập Căn cứ vào nguồn nhập, nguyên vật liệu được chia thành: - Nguyên vật liêu nhận góp vốn liên doanh - Nguyên vật liệu mua ngoài: Từ thị trường trong nước hoặc nhập khẩu - Nguyên vật liệu tự gia công sản xuất Lương Thị Huyên – MSV: 1364010031 - Lớp QTL 302K 8 Khoá luận tốt nghiệp - Trường ĐHDL Hải Phòng 1.3 Phân loại theo mục đích công dụng Căn cứ vào mục đích, công dụng, nguyên vật liệu được chia thành: - Nguyên vật liệu dùng để trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm - Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác : Phục vụ quản lý ở các phân xưởng, tổ, đội sản xuất, cho quản lý doanh nghiệp, bán hàng.2 Đánh giá nguyên vật liệu Đánh giá nguyên vật liệu là thước đo biểu hiện giá trị của chúng theo những nguyên tắc nhất định đảm bảo yêu cầu chân thực, thống nhất.1 Nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu - Nguyên tắc giá phí (giá vốn): Đây là nguyên tắc cơ bản nhất của kế toán. Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các nguyên vật liệu phải được ghi chép, phản ánh theo giá vốn, tức số tiền mà doanh nghiệp bỏ ra để có được số nguyên vật liệu đó. - Nguyên tắc thận trọng: Đây là nguyên tắc đề cập đến việc lựa chọn các phương pháp sao cho ít ảnh hưởng đến vốn chủ sở hữu. Với những nguyên vật liệu có xu hướng giảm giá, mất giá, hoặc không bán được cần phải dự tính phần thiệt hại để thực hiện việc thiết lập dự phòng vào chi phí, hoặc cố gắng tính hết các khoản chi phí có thể tính được cho số nguyên vật liệu chưa đem ra sử dụng có thể chịu phần chi phí ít nhất.
- Nguyên tắc nhất quán: Nguyên tắc này đòi hỏi kế toán phải quản lý giúp cho doanh nghiệp biết chính xác số lượng và giá trị tồn kho của doanh nghiệp tại các thời điểm nhằm xây dựng các kế hoạch sản xuất phù hợp tránh sự biến động của giá vốn và lượng nguyên vật liệu tồn kho đột xuất.2 Cách xác định giá thực tế nguyên vật liệu nhập kho Đối với nguyên vật liêu mua ngoài: Giá thực tế nhập kho là trị giá vốn thực tế nhập kho. Trị giá thực tế nguyên Giá mua vật liệu Chi phí Thuế NK = + + Vật liệu nhập kho (theo hóa đơn) thu mua (nếu có) Lương Thị Huyên – MSV: 1364010031 - Lớp QTL 302K 9 Khoá luận tốt nghiệp - Trường ĐHDL Hải Phòng - Chi phí thu mua thực tế gồm: Chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản, chi phí thuê kho, thuê bãi, tiền phạt, tiền bồi thường…. - Đối với các đơn vị tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì giá mua thực tế là giá không có thuế GTGT đầu vào. - Đối với các đơn vị tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và là cơ sở kinh doanh không thuộc đối tượng chịu thuế thì giá mua thực tế là giá mua đã có thuế GTGT - Đối với nguyên vật liệu mua vào sử dụng đồng thời cho cả hai hoạt động chịu thuế GTGT thì về nguyên tắc phải hạch toán riêng và chỉ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với phần nguyên vật liệu chịu thuế GTGT đầu ra.
Đối với nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự gia công chế biến: giá thực tế của nguyên vật liệu là giá của vật liệu xuất gia công, chế biến cộng với các chi phí gia công chế biến. Chí phí chế biến gồm: chi phí nhân công, chi phí khấu hao máy móc thiết bị và các khoán chi phí khác. Đối với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: Giá vốn thực tế của Giá trị nguyên vật Chi phí thuê ngoài = + nguyên vật liệu liệu xuất gia công gia công - Chi phí thuê ngoài gia công bao gồm: Tiền thuê gia công phải trả, chi phí vận chuyển đến cơ sở gia công và ngược lại.