chương 1, tác giả trình bày những nội dung chính của các nghiên cứu ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của doanh nghiệp. Tổng hợp từ những nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu và định hướng vấn đề cần nghiên cứu, làm cơ sở cho các chương tiếp theo của luận văn. Công trình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Công trình nghiên cứu liên quan đến CLTT trên BCTC 1.
Cách thức đo lường CLTT trên BCTC Tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, có nhiều cách thức khác nhau được sử dụng để đánh giá CLTT trên BCTC, cụ thể có 4 phương pháp nghiên cứu: phương pháp sử dụng lợi nhuận đại diện cho CLTT trên BCTC (như Healy & Wahlen, 1999; Dechow & ctg, 1995; …), phương pháp đánh giá mối quan hệ giữa số liệu lợi nhuận trên BCTC với phản ứng của thị trường chứng khoán thông qua đo lường tính thích hợp của thông tin trên BCTC (phương pháp này sử dụng hệ số điều chỉnh R2 từ chạy mô hình hồi quy tuyến tính từ mô hình đề xuất của Ohlson (1995), hệ số R2 càng cao chứng tỏ khả năng giải thích của lợi nhuận hoặc/và giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu với biến động của giá cổ phiếu), phương pháp đo lường CLTT trên BCTC dựa vào một hoặc một vài yếu tố cụ thể của BCTC (công bố, kịp thời,…), phương pháp đo lường CLTT trên BCTC dựa trên các thuộc tính về CLTT được quy định bởi tổ chức nghề nghiệp. Phương pháp thứ 4 cho phép đo lường CLTT trên BCTC một cách toàn diện hơn. Tóm tắt các công trình nghiên cứu nước ngoài Tên tác giả (Năm phát Tên công trình Mục tiêu nghiên cứu hành) What factor influence Heidi (2001) financial statement quality? Sử dụng lợi nhuận đại diện cho Habib và CEO/CFO characteristics and CLTT trên BCTC. Hossain financial reporting quality: A (2012) review Đánh giá mối quan hệ giữa số Effect of information quality liệu lợi nhuận trên BCTC với Garza Sánchez due accounting regulatory phản ứng của thị trường chứng và cộng sự changes: Applied case to khoán thông qua đo lường tính (2107) Mexican real sector.
thích hợp của thông tin trên BCTC. Key issues of accounting Đo lường CLTT trên BCTC dựa Hongjiang Xu information quality vào một hoặc một vài yếu tố cụ và cộng sự management: Australian case thể của BCTC (dồn tích, kịp (2003) studies thời, toàn vẹn, nhất quán). IFRS Adoption and Soderstrom và Accounting Quality: A Đo lường CLTT trên BCTC dựa Sun (2007) Review trên các thuộc tính về CLTT Conceptually-Based Financial được quy định bởi tổ chức nghề Braam và Reporting Quality nghiệp. Nguồn: Tác giả tổng hợp.
Các công trình nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC Nghiên cứu của Heidi (2001) Tác giả nghiên cứu về những nhân tố tác động đến CLTT trên BCTC theo khuôn mẫu lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp ở Belgian. Tác giả đã tìm thấy những nhân tố tác động đến CLTT trên BCTC có sự khác biệt giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra, tác giả cũng nhận định rằng thuế và mức độ phụ thuộc vào vay nợ tài chính cũng tác động đến chất lượng BCTC của doanh nghiệp tư nhân. Nghiên cứu của Hongjiang Xu và cộng sự (2003) Hongjiang Xu và cộng sự (2003) nghiên cứu về những yếu tố chính trong quản lý CLTT kế toán: nghiên cứu tại Úc.
Phương pháp nghiên cứu định tính (nghiên cứu tình huống) được sử dụng cho 4 tổ chức lớn được lựa chọn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, yếu tố con người, yếu tố hệ thống và yếu tố tổ chức có liên quan mật thiết với CLTT trên BCTC. Bên cạnh đó, các yếu tố bên ngoài cũng có ảnh hưởng nhất định đến CLTT trên BCTC, mặc dù các doanh nghiệp không thể kiểm soát các yếu tố này. Các nhân tố bên trong: nhân tố về con người và hệ thống (giáo dục và đào tạo con người, tương tác giữa con người và hệ thống, hệ thống kiểm soát và vai trò của con người trong kiểm soát…), tổ chức (cấu trúc tổ chức, văn hóa tổ chức, quy định của tổ chức, …) và các nhân tố bên ngoài (thay đổi công nghệ, thay đổi trong hệ thống văn bản pháp lý, …) thực sự tác động đến CLTT trên BCTC.
Nghiên cứu của Soderstrom và Sun (2007) Bài nghiên cứu cung cấp lý thuyết nền tổng quan về những nhân tố có ảnh hưởng đến CLTT kế toán, xem xét ở khía cạnh hệ thống pháp luật và hệ thống chính trị. Năm 2002, các công ty niêm yết ở châu Âu được yêu cầu sử dụng chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) cho năm tài chính bắt đầu vào ngày 1/1/2005. Thay đổi trong hệ thống kế toán sẽ ảnh hưởng lớn đến môi trường thông tin của các công ty tại châu Âu. Tác giả cho rằng, vẫn có sự khác biệt về CLTT kế toán giữa các quốc gia cùng áp dụng IFRS bởi vì CLTT kế toán bị ảnh hưởng từ hệ thống pháp luật và hệ thống chính trị của mỗi quốc gia.
Nhân tố ảnh hưởng đến CLTT kế toán sau khi áp dụng IFRS được 8 tác giả xác định bao gồm: CMKT, hệ thống văn bản pháp lý, hệ thống chính trị, chính sách ưu đãi của chính phủ. Nghiên cứu của Habib và Hossain (2012) Nghiên cứu này xem xét về mối quan hệ giữa các khía cạnh khác nhau của đặc điểm CEO/CFO và các đặc tính của thông tin kế toán. Đánh giá ba vấn đề quan trọng, cụ thể là mối quan hệ giữa chất lượng BCTC và thu nhập của CEO/CFO, tác động sự tự tin quá mức trong quản trị đến kết quả BCTC và cuối cùng là tác động của giới tính CEO/CFO đến kết quả báo cáo. Đánh giá này minh họa tầm quan trọng của việc xem xét các đặc điểm của CEO/CFO như một yếu tố quyết định quan trọng tác động đến CLTT trên BCTC.
Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết cho các cơ quan nhà nước quan tâm đến việc tăng cường chức năng quản trị để nâng cao độ tin cậy của BCTC. Nghiên cứu của Braam và Beest (2013) Nghiên cứu đánh giá chất lượng BCTC, phân tích thực nghiệm chất lượng khác biệt giữa báo cáo thường niên của doanh nghiệp Anh và báo cáo thường niên doanh nghiệp của Mỹ (theo mẫu 10-K). Tác giả xem xét CLTT trên BCTC dựa trên khuôn mẫu lý thuyết của IASB (2010). Kết quả cho thấy báo cáo thường niên của các doanh nghiệp tại Anh toàn diện hơn, được tích hợp hơn báo cáo thường niên của các doanh nghiệp tại Mỹ (theo mẫu 10-K).
Vì vậy, thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp tại Anh được đánh giá là hữu ích hơn. Nghiên cứu của Garza Sánchez và cộng sự (2017) Mục đích của bài nghiên cứu là xác định sự thay đổi trong CMKT có cải thiện CLTT trên BCTC ở các công ty niêm yết tại Mexico. Bài nghiên cứu này được thực hiện trong giai đoạn 2000 – 2013, mẫu gồm 141 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mexico sử dụng phương pháp dữ liệu bảng. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng thay đổi từ CMKT quốc gia Mexico sang CMKT quốc tế (IFRS) làm gia tăng tính thích hợp của CLTT- một trong những thuộc tính quan trọng đo lường CLTT trên BCTC (theo quan điểm CLTT của FASB&IASB) và do đó gia tăng CLTT kế 9 toán.
Bài nghiên cứu cho thấy rằng thông tin kế toán áp dụng theo chuẩn mực BCTC quốc tế đáng tin cậy hơn cho nhà đầu tư trong và ngoài nước. Công trình nghiên cứu liên quan đến CSKT 1. Các quan điểm nghiên cứu về CSKT Có 3 quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về hình thành CSKT, đó là quan điểm hành vi cơ hội (opportunistic behavior), quan điểm hợp đồng hiệu quả (efficient contracting) và quan điểm thông tin (information) (Holthausen, 1990). Quan điểm thông tin dựa trên dữ liệu kế toán (thường là lợi nhuận, cổ tức, và dòng tiền) là thông tin đầu ra để đánh giá và xem xét mối quan hệ giữa công bố thông tin kế toán và giá cổ phiếu hoặc thu nhập từ cổ phiếu (Watts & Zimmerman).
Quan điểm thông tin được đề cập trong công trình nghiên cứu Ball và Brown (1968), Beaver (1968), … Những nhà nghiên cứu này giả định thông tin không tốn nhiều chi phí và chi phí giao dịch bằng không. Quan điểm này không giải thích nhiều đến CSKT được lựa chọn mà chủ yếu xem xét tác động của CSKT đối với thuế. Đến khi chi phí hợp đồng được quan tâm, các nhà nghiên cứu mới đưa ra những giả thuyết nhằm giải thích và tiên đoán CSKT được lựa chọn như thế nào. Các nhà nghiên cứu về kế toán xem xét giả thuyết nghiên cứu: hợp đồng hiệu quả giải thích CSKT được lựa chọn.
Leftwich (1983) giải thích CSKT như thế nào được gọi là hiệu quả trong kiểm soát xung đột lợi ích giữa bên vay và bên cho vay. Zimmer (1986) giải thích lý do tại sao các nhà xây dựng bất động sản Úc tận dụng lãi suất khi có các hợp đồng với đơn giá điều chỉnh (cost-plus contract) cho phép lãi suất được ghi nhận là chi phí. Whittred (1987) giải thích tại sao BCTC hợp nhất gia tăng nhằm ngăn chặn hành vi cơ hội của nhóm có lợi ích. Watts và Zimmerman (1990a), Holthausen (1990) phân biệt CSKT được lựa chọn theo quan điểm thông tin và quan điểm hợp đồng hiệu quả.
Watts và Zimmerman (1990a) mô tả CSKT mà làm giảm xung đột lợi ích giữa các bên (bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm), từ đó gia tăng giá trị công ty, được gọi là CSKT hiệu quả. Các công trình nghiên cứu về CSKT được lựa chọn bởi nhà quản trị Nghiên cứu của Holthausen (1990) Bài nghiên cứu đề cập đến 3 khía cạnh hình thành nên CSKT của doanh nghiệp, bao gồm: quan điểm hành vi cơ hội (opportunistic behavior), quan điểm hợp đồng hiệu quả (efficient contracting) và quan điểm thông tin (information). Tuy nhiên, tác giả nhận định rằng 3 quan điểm này không loại trừ lẫn nhau. Tác giả phân tích, tổng hợp 2 bài nghiên cứu về CSKT của Malmquist (1990), Mian và Smith (1990).
Nghiên cứu này xem xét CSKT được lựa chọn như một phương tiện nhằm cải thiện khả năng giám sát của các bên trong thỏa thuận dựa trên số liệu kế toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy, CSKT được lựa chọn nhằm gia tăng hiệu quả trong cam kết về giám sát xung đột lợi ích giữa các bên trong công ty. Các nghiên cứu CSKT xuất phát từ lý thuyết hợp đồng hiệu quả được cho là một phương tiện đối phó với các xung đột lợi ích giữa các bên (bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm).