CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Giới thiệu Chương này trình bày nội dung: tổng quan tài liệu về áp dụng CMKTQT, nhân tố tác động đến áp dụng CMKTQT; phân tích, đánh giá, đóng góp của nghiên cứu trước; từ đó trình bày khe hổng nghiên cứu và cuối cùng là vấn đề nghiên cứu của luận án. Tổng quan nghiên cứu chung về Chuẩn mực kế toán quốc tế. Quá trình áp dụng CMKTQT trên toàn cầu là đề tài tranh cãi bởi hai trường phái tồn tại: trường phái ủng hộ việc áp dụng CMKTQT vào CMKT quốc gia, trường phái không ủng hộ việc áp dụng CMKTQT vì lo ngại sự khác biệt của mỗi quốc gia. Trường phái ủng hộ việc áp dụng CMKTQT vào CMKT quốc gia Trong xu thế hội nhập, CMKTQT đang ngày càng được ủng hộ từ các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Việc thống nhất ngôn ngữ kế toán đã nâng cao khả năng so sánh của thông tin kế toán (Hail, 2011). Trường phái ủng hộ việc áp dụng CMKTQT chủ yếu tập trung vào các nội dung sau: • Nghiên cứu về lợi ích khi áp dụng CMKTQT của các quốc gia. • Nghiên cứu về tác động của việc áp dụng CMKTQT. Nghiên cứu về lợi ích khi áp dụng CMKTQT tại các quốc gia Quá trình áp dụng CMKTQT nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế và nhà nghiên cứu xuất phát từ những lợi ích như sau: Thứ nhất, CMKTQT sẽ cải thiện chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính Lợi ích khi các quốc gia áp dụng CMKTQT được ghi nhận chính là giúp cải thiện chất lượng thông tin trên BCTC như tăng tính so sánh, minh bạch, tính kịp thời, sự phù hợp.
Sự phát triển của CMKT được áp dụng trên toàn cầu thúc đẩy khả năng so sánh quốc tế của thông tin tài chính. Do vậy, nhiều quốc gia có ý định áp dụng CMKTQT hoặc CMKT quốc gia hội tụ với CMKTQT (Larson and Street, 2004). Áp dụng CMKTQT giúp thông tin công bố phù hợp và rõ ràng hơn. Daske and Gebhardt (2006) kết luận rằng BCTC theo IAS/IFRS cung cấp thông tin chất lượng cao và rõ ràng hơn cho nhà đầu tư so với hầu hết BCTC theo CMKT quốc gia.
Quy tắc đo lường của CMKTQT buộc DN phải công bố thông tin và đưa ra nội dung thông tin cao hơn CMKT quốc gia. Để hỗ trợ yêu cầu này, IAS/IFRS sử dụng chuẩn mực giá trị hợp 11 lý để nâng cao chất lượng thông tin của khoản mục lợi nhuận. Aisbitt (2006) phân tích khác biệt của 100 DN lớn niêm yết khi chuyển từ CMKT Anh sang CMKTQT vào ngày 1/1/2005. Dựa trên bảng cân đối kế toán công bố trước và sau khi áp dụng CMKTQT, tác giả kết luận thông tin tài chính DN sau khi áp dụng CMKTQT rõ ràng hơn, đặc biệt liên quan đến khoản mục nguồn vốn.
Christensen et al (2013) ghi nhận lợi ích khi áp dụng CMKTQT tại DN của Đức khi cải thiện chất lượng BCTC trong giảm thủ thuật quản trị lợi nhuận và thông tin cung cấp phù hợp, kịp thời hơn cho bên liên quan. Mary et al (2008) nghiên cứu xem xét phản ứng thị trường chứng khoán châu Âu đến 16 khoản mục khi áp dụng CMKTQT ở châu Âu được thu thập từ 21 nước tự nguyện áp dụng CMKTQT từ năm 1994 đến 2003. DN phản ứng tích cực với áp dụng CMKTQT vì chất lượng thông tin cao hơn, đặc biệt là ngân hàng. Nghiên cứu chỉ rõ áp dụng CMKTQT thường có ít vấn đề liên quan quản trị lợi nhuận, ghi nhận lỗ kịp thời hơn và giá trị của kế toán phù hợp hơn so với nước không áp dụng CMKTQT.
Nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra lợi ích từ áp dụng CMKTQT là cải thiện tính minh bạch của BCTC. Vera (2014) đánh giá tác động khi áp dụng CMKTQT ở 5 nước châu Âu cũng đồng quan điểm với nghiên cứu trước; cho rằng áp dụng CMKTQT cải thiện chất lượng BCTC, tăng tính hữu ích, minh bạch với nhà đầu tư. Ihab and Nedal (2013) nghiên cứu DN lớn niêm yết trên thị trường chứng khoán UAE cũng đưa nhận định tương tự. Daske et al (2013) chỉ ra rằng CMKTQT phù hợp quốc gia có thị trường vốn phát triển vì minh bạch, công khai BCTC phù hợp với nhà đầu tư, cung cấp thông tin toàn diện và rõ ràng hơn so với CMKT quốc gia.
Nghiên cứu tại Việt Nam ghi nhận lợi ích cải thiện chất lượng BCTC từ áp dụng CMKTQT. Phan Thị Hồng Đức, Nguyễn Thanh Hà và Nguyễn Thị Phước (2016) khảo sát ý kiến của ba nhóm hành nghề kế toán: (1) kế toán viên công chứng, (2) kế toán DN và (3) giảng dạy kế toán nhằm cung cấp cho Ủy ban soạn thảo CMKT Việt Nam thông tin hữu ích khi triển khai áp dụng CMKTQT. Kết quả 80% người trả lời cho rằng BCTC lập theo CMKTQT cung cấp thông tin “đáng tin cậy” và “so sánh được”. Lợi ích “có thể hiểu được” và “chất lượng báo cáo cao hơn so với lập theo VAS” được thừa nhận khá cao (62% và 57%).
Người trả lời khảo sát còn nêu thêm lợi ích tiềm ẩn khác khi áp dụng CMKTQT như “Giúp so sánh kết quả kinh doanh của chi nhánh so 12 với cả tập đoàn”. Lợi ích lớn nhất từ lập báo cáo theo CMKTQT là DN Việt Nam cung cấp BCTC tin cậy và có tính so sánh. Thứ hai, BCTC lập theo CMKTQT thu hút vốn và tăng cường cơ hội hợp tác kinh doanh, tăng tính cạnh tranh và hội nhập trên thị trường thế giới Đầu tư nước ngoài đánh giá cao BCTC khi DN áp dụng CMKTQT. Mức độ tin cậy thông tin của DN lớn niêm yết trên thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung được cải thiện, thu hút vốn đầu tư nước ngoài dễ dàng hơn, nền kinh tế và DN tiết kiệm phí phát hành trái phiếu, cổ phiếu huy động vốn do mức tín nhiệm tăng.
Khi áp dụng CMKTQT, DN có thể trình bày BCTC trên cơ sở tương tự như đối thủ cạnh tranh nước ngoài (Trần Quốc Thịnh, 2016). Saudagaran and Diga (2003) cho rằng áp dụng CMKTQT làm tăng khả năng cạnh tranh thị trường vốn quốc tế vì IAS/IFRS không phản ánh chính sách kế toán của quốc gia duy nhất, do vậy khi áp dụng không bị tác động bởi quan điểm chính trị của quốc gia. Young and Guenther (2003) chỉ ra lợi ích khi áp dụng CMKTQT tại nước đang phát triển là tăng cường hội nhập và cạnh tranh trong thị trường tài chính; cải tiến trong công bố, minh bạch thông tin tài chính; có thể chuyển vốn quốc tế và đầu tư xuyên biên giới nhiều hơn, tạo cơ hội mở rộng hợp tác kinh doanh giữa các nước. Barth et al., (2008) cho rằng áp dụng CMKTQT cải thiện chức năng của thị trường vốn toàn cầu vì cung cấp thông tin phù hợp và chất lượng cao cho nhà đầu tư.
CMKTQT cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, toàn diện hơn so với CMKT quốc gia vì CMKT tại các nước này bị tác động bởi luật pháp, chính trị và chính sách thuế (Cairns, 2011). Lợi ích khác khi áp dụng CMKTQT tại các quốc gia được Hail et al., (2010) nhận định là giúp tăng cường quan hệ kinh doanh giữa các nước do giảm thời gian xử lý thông tin, tiết kiệm chi phí và tăng liên kết trong mạng lưới thông tin liên lạc. Phan et al., (2014) khảo sát 555 chuyên gia kế toán và nhà nghiên cứu về nhận thức áp dụng CMKTQT tại Việt Nam. Khảo sát cho thấy áp dụng CMKTQT tại Việt Nam có mức khả quan cao.
Đa số đồng ý rằng CMKTQT có nhiều lợi thế như độ tin cậy, nâng cao “tự tin, so sánh” giữa DN và các nước, liên quan đến người sử dụng bên ngoài, tiếp cận thị trường toàn cầu dễ dàng hơn CMKT hiện hành. 13 Trần Quốc Thịnh (2014) nhận định các nước không có nguồn lực để phát triển LGAAP có thể áp dụng CMKTQT như cơ chế truyền tín hiệu thu hút vốn nước ngoài. Phan Thị Hồng Đức, Nguyễn Thanh Hà và Nguyễn Thị Phước (2016) cho thấy khi áp dụng CMKTQT tác động tích cực cho DN Việt Nam như: Dễ tiếp cận thị trường vốn hơn so với VAS (82%); tăng niềm tin cho nhà đầu tư tiềm năng (81%); tăng niềm tin cổ đông (75%); tiếp nhận nguồn vốn bên ngoài dễ dàng hơn so với VAS (69%); cải thiện quan hệ với tổ chức tín dụng (54%). Kết quả cho thấy CMKTQT mang lại cơ hội cho DN tham gia vào thị trường vốn toàn cầu, từ đó làm tăng hình ảnh cho Việt Nam.
Lê Hoàng Phúc (2014) nhận định từ kinh nghiệm các nước đã áp dụng CMKTQT, DN lớn niêm yết ở Việt Nam được hưởng lợi từ hội nhập kinh tế: tiếp cận nguồn vốn trong và ngoài nước, duy trì sức cạnh tranh và phát triển bền vững. Qua kinh nghiệm triển khai IAS/IFRS trên thế giới, minh bạch và mức độ tin cậy thông tin của DN lớn niêm yết và TTCK được cải thiện, gia tăng niềm tin trong giới đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài. Lê Vũ Trường và Đinh Minh Tuấn (2016) khẳng định áp dụng CMKTQT mang lại “bình đẳng” giữa nhà đầu tư/tổ chức đầu tư chuyên nghiệp với nhà đầu tư nước ngoài mới và/hoặc nhỏ lẻ do họ không tốn thêm chi phí để “chuyển đổi số liệu”. Các nước đang phát triển có thể do áp lực từ tổ chức bên ngoài (WB và IMF) “áp dụng CMKTQT là điều kiện để nhận hỗ trợ” (Judge et al.
Thứ ba, CMKTQT sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động DN, nâng cao chất lượng quản trị và thông tin Ashbaugh and Pincus (2001) cho thấy sai phạm trong phân tích dự báo cũng bị tác động do khác biệt giữa CMKTQT với LGAAP. Kết quả độ chính xác dự báo được cải thiện sau khi DN áp dụng CMKTQT, từ đó có thể nâng cao chất lượng quản trị. Whittington (2005) chỉ rõ lợi ích từ áp dụng CMKTQT là tạo điều kiện so sánh giữa các DN hoạt động trong cùng thị trường, có trụ sở ở các nước khác nhau. Từ việc sử dụng thống nhất tài khoản khi áp dụng CMKTQT tạo nhiều thuận lợi cho DN đánh giá được hoạt động của mình trong ngành để có phương án cải tiến hiệu quả.
Nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên sử dụng dữ liệu công khai có sẵn để cung cấp bằng chứng trực tiếp về vai trò của đặc tính của thông tin tài chính trong quyết định kế toán của nhà quản lý khi CMKTQT thay đổi. Christopher and Christian (2014) cho 14 thấy CMKTQT tác động tích cực đến chất lượng thông tin cung cấp cho nhà quản lý. Đặc biệt, đặc tính thông tin thay đổi liên quan đến đo lường chất lượng thông tin có tác động quan trọng đến quyết định của chính sách kế toán.