Phần mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về lập và trình bày Báo cáo tài chính hợp nhất trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng công tác lập và trình bày Báo cáo tài chính hợp nhất tại Tổng công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam Chƣơng 3: Hoàn thiện lập và trình bày Báo cáo tài chính hợp nhất tại Tổng công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về Báo cáo tài chính hợp nhất trong doanh nghiệp 1. Khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm Tập đoàn, Công ty mẹ- công ty con Tập đoàn: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 25: Tập đoàn bao gồm công ty mẹ và các công ty con. Có thể nói, tập đoàn là một tập hợp gồm nhiều doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp năm 2005 định nghĩa: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về tập đoàn như: Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì tập đoàn kinh tế được xếp là một thành phần trong nhóm công ty, cụ thể như sau: “Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.
Thành phần của nhóm công ty gồm có: Công ty mẹ, công ty con; Tập đoàn kinh tế; Các hình thức khác.” Theo Viện nghiên cứu Quản lí Kinh tế Trung ương CIEM thì: “Khái niệm tập đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia. Trong mô hình này, “công ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của “công ty con” về tài chính và chiến lược phát triển.Trần Tiến Cường, Trưởng ban nghiên cứu cải cách và phát triển doanh nghiệp (Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế TƯ) trong dự thảo Nghị định về hình thành, tổ chức, hoạt động và giám sát đối với tập đoàn kinh tế nhà nước năm 2008 thì tập đoàn kinh tế là nhóm các công ty, liên kết chủ yếu dưới hình thức công ty mẹ - công ty con, có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên, tạo thành tổ hợp kinh doanh gắn 11 bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác. Từ những quan điểm trên có thể tổng hợp thành một khái niệm chung về tập đoàn như sau: “Tập đoàn kinh tế là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay nhiều ngành khác nhau, ở phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo chi phối hoạt động của mông ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển. Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận.” Công ty mẹ- Công ty con: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 25: Công ty con là doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của một doanh nghiệp khác (gọi là công ty mẹ).
Công ty mẹ là công ty có một hoặc nhiều công ty con. Thông tư 202/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 định nghĩa: Công ty con cấp 1 là công ty con bị công ty mẹ kiểm soát trực tiếp thông qua quyền biểu quyết trực tiếp của công ty mẹ. Công ty con cấp 2 là công ty con bị công ty mẹ kiểm soát gián tiếp thông qua các công ty con khác. Một công ty được coi là công ty mẹ của một công ty khác nếu có quyền kiểm soát thông qua việc chi phối các chính sách tài chính và hoạt động nhằm thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động của công ty này mà không chỉ xét tới hình thức pháp lý, hay tên gọi của công ty đó.
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS, công ty mẹ (Parent company) là một thực thể pháp lý có ít nhất một đơn vị trực thuộc- công ty con (Subsidiary). Công ty con là thực thể pháp lý bị kiểm soát bởi công ty mẹ. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm công ty mẹ- công ty con, có thể hiểu công ty mẹ là công ty đầu tư vốn vào các công ty khác bằng cách nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ, hoặc nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối của các công ty khác (công ty con), có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của công ty con như chiến lược phát triển, nhân sự chủ chốt, kế hoạch kinh doanh và các quyết định quan trọng khác. Công ty mẹ chi phối hoạt động của công ty con chủ yếu thông qua việc chi 12 phối vốn, tài sản.
Công ty con là công ty được đầu tư bởi công ty mẹ, do công ty mẹ sở hữu toàn bộ hoặc một tỷ lệ vốn điều lệ. Đặc điểm của mô hình công ty mẹ- công ty con: - Công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập, có sản nghiệp riêng (pháp nhân kinh tế đầy đủ) - Quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con được thiết lập chủ yếu trên cơ sở sở hữu vốn. - Công ty mẹ giữ vai trò trung tâm quyền lực, kiểm soát chi phối đối với các công ty con. - Công ty mẹ thường không phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các nghĩa vụ của công ty con.
Công ty mẹ chỉ chịu trách nhiệm đối với phần vốn góp hay cổ phần đầu tư tại công ty con. - Vị trí công ty mẹ và công ty con chỉ trong mối quan hệ giữa hai công ty với nhau và mang tính tương đối, tức là công ty con này có thể là công ty mẹ của một công ty khác (tính tương đối này càng nổi bật hơn trong trường hợp các công ty trong một nhóm có nắm giữ vốn cổ phần qua lại của nhau). Khái niệm báo cáo tài chính hợp nhất Báo cáo tài chính là một trong những sản phẩm quan trọng của kế toán và được dung như một công cụ để truyền đạt thông tin tài chính về thực thể báo cáo đến các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin. “Bản chất của BCTC là những tài liệu có tính lịch sử do kế toán soạn thảo theo định kỳ, được trình bày dưới dạng báo cáo tổng hợp thoe các cấu trúc nhất định, phù hợp với những nguyên tắc và quy định của kế toán nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin khác nhau” (Nguyễn Thị Kim Cúc, 2009, tr7) Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 01: Báo cáo tài chính phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của báo cáo tài chính.
Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá 13 tình hình và kết quả kinh doanh trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là Doanh thu, thu nhập khác, Chi phí và Kết quả kinh doanh. BCTC có thể lập cho từng doanh nghiệp riêng hoặc hợp nhất báo cáo của nhiều doanh nghiệp. Báo cáo tài chính hợp nhất được biểu hiện theo nhiều cách khác nhau tại các thời điểm khác nhau trong cùng một quốc gia hoặc tại các quốc gia khác nhau tùy thuộc vào định nghĩa về BCTCHN trong các CMKT được áp dụng ở các quốc gia này vào thời điểm nghiên cứu.
Ví dụ như: Theo IAS 27 (2008): “BCTCHN là BCTC của một nhóm được trình bày như một thực thể kinh tế duy nhất” (IASB, 2011a, p.A707) Theo IFRS 10 (2011): “BCTCHN là các BCTC của một nhóm mà trong đó tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập, chi phí và các dòng tiền của công ty mẹ và các công ty con của nó được trình bày như là một thực thể kinh tế duy nhất” (IASB, 2011b, p.13) Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 25: Báo cáo tài chính hợp nhất là báo cáo tài chính của một tập đoàn được trình bày như báo cáo tài chính của một doanh nghiệp. Báo cáo này được lập trên cơ sở hợp nhất báo cáo của công ty mẹ và các công ty con. Báo cáo tài chính hợp nhất mang tính tổng hợp có điều chỉnh các chỉ tiêu kinh tế từ các báo cáo tài chính riêng biệt của công ty mẹ và công ty con. Tất cả các định nghĩa trên đều cho rằng BCTCHN là dạng BCTC nhằm phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, sự thay đổi trong tình hình tài chính của công ty mẹ và các công ty con như là một thực thể báo cáo duy nhất.
Các khái niệm liên quan khác Kiểm soát: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 25: Kiểm soát là quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động của doanh nghiệp đó. Theo thông tư 202/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014: Quyền kiểm soát được xem là tồn tại khi công ty mẹ năm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các công ty con khác trên 50% quyền biểu quyết ở công ty con trừ những trường hợp đặc biệt khi 14 có thể chứng minh được rằng việc nắm giữ nói trên không gắn liền với quyền kiểm soát. Lợi ích công ty mẹ và cổ đông không kiểm soát nắm giữ tại công ty con bao gồm lợi ích trực tiếp và gián tiếp có được thông qua công ty con khác. Việc xác định lợi ích của các bên được căn cứ vào tỷ lệ vốn góp (trực tiếp và gián tiếp) tương ứng của từng bên trong công ty con, trừ khi có thoả thuận khác.
Trường hợp có sự khác biệt giữa tỷ lệ vốn góp theo giấy đăng ký kinh doanh và tỷ lệ vốn thực góp thì tỷ lệ lợi ích được xác định theo điều lệ doanh nghiệp hoặc theo sự thống nhất giữa các bên.