LỜI MỞ ĐẦU 1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Có thể nói hoạt động kinh doanh về lĩnh vực khai thác, chế biến và kinh doanh (KTCBKD) đá xây dựng ở các tỉnh Đông Nam Bộ có nhiều thuận lợi và phát triển trong những năm tới. Xét ở tầm vĩ mô, tổng nhu cầu đá xây dựng từ năm 2020 đến năm 2030 sẽ tăng trưởng nhanh căn cứ theo quyết định được ban hành của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch tổng thể ngành vật liệu xây dựng. Dự kiến sản lượng vào năm 2020 của cả nước 181 triệu m3, trong đó khu vực Đông Nam Bộ là 45 triệu m3.
Xét về thời hạn khai thác lâu dài/trữ lượng lớn thì các mỏ đá khu vực phía Nam đã cạn kiệt sau nhiều năm khai thác nhưng khó có khả năng bù đắp nguồn cung cấp đá từ khu vực miền Bắc vào do chi phí vận chuyển cao. Đồng thời, Chính phủ hiện đang thắt chặt cấp giấy phép khai thác mỏ đá từ nay cho đến năm 2020. Do đó, nhu cầu đá xây dựng lớn hơn nguồn cung nên giá bán sẽ tăng cao, giúp các DN có kết quả hoạt động kinh doanh khả quan. Khu vực Đông Nam Bộ được hưởng lợi từ sự phục hồi của thị trường bất động sản và ít chịu sự cạnh tranh từ đối thủ nước ngoài như các loại vật liệu xây dựng khác.
Bên cạnh đó, các công trình giao thông lớn như sân bay Long Thành, cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết… đã được lên kế hoạch đầu tư.1 Mức tăng trưởng về kinh tế của khu vực các tỉnh Đông Nam Bộ cao hơn so với mức bình quân chung của cả nước trong những năm qua. Tuy nhiên, kinh tế phát triển thì các vấn đề về xã hội cũng bị kéo theo. Việc quản lý, khai thác đá xây dựng ở khu vực Đông Nam Bộ đang báo động đỏ do có nhiều hệ lụy về môi trường như: hàng ngày người dân phải hít thở khói bụi ô nhiễm, tai nạn giao thông rình rập, khai thác đá để lại những hố sâu tử thần sâu hàng chục mét và số người bị chết đuối từ những hố sâu, hồ nước … Những hệ quả đó đang đặt ra vấn đề bảo vệ và hoàn nguyên môi trường, quy hoạch khai thác tài nguyên nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.2 Định nghĩa về KTQTCP của tác giả Nguyễn Hải Hà (2016, 30): “KTQTCP cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc thực hiện các chức 1 http://s.vn/cti-259271/nhieu-trien-vong-tuoi-sang-cho-doanh-nghiep-khai-thac-da-dong-nam-bo.chn cập nhật ngày 29 tháng 12 năm 2018 2 http://www.vn/khai-thac-da-nhung-he-luy-moi-truong-kho-vi-moi-truong-o-nhiem-441332.html cập nhật ngày 29 tháng 12 năm 2018. 2 năng quản lý.
Để thực hiện vai trò của mình, KTQTCP tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng lập kế hoạch; phản ánh thông tin thực hiện để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch và xử lý thông tin thực hiện từ đó các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Như vậy, tổ chức kế toán quản trị chi phí đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho quản lý trong quá trình kinh doanh”. Ngành khai thác chế biến và kinh doanh (KTCBKD) đá xây dựng đạt hiệu quả hoạt động kinh doanh cao và có triển vọng phát triển trong những năm tới. Tuy nhiên, đây là ngành kinh doanh gắn liền với trách nhiệm xã hội như môi trường, tiếng ồn, khói bụi và chịu sự ảnh hưởng bởi trữ lượng khai thác khoáng sản, thời hạn được khai thác, quản lý nguồn tài nguyên,….
Với tiềm năng phát triển ngành từ năm 2020-2030 và sự thu hẹp quá trình hoạt động SXKD do hết hạn các mỏ đá được khai thác, với mong muốn tối đa hóa lợi nhuận từ các nhà đầu tư, cổ đông thúc đẩy các nhà quản lý DN cần phải linh hoạt trong quá trình quản lý điều hành, phải xây dựng chiến lược ngắn hạn và dài hạn, cần thông tin liên quan KTQTCP để có cơ sở ra quyết định kịp thời, hiệu quả và phù hợp nhằm giúp doanh nghiệp đứng vững trong nền kinh tế có nhiều cơ hội và cũng lắm thách thức nhằm phát huy thế mạnh của ngành, phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường, góp phần phát triển kinh tế Việt Nam bền vững. Thực trạng công tác KTQTCP hiện nay của các DNKTCBKD đá xây dựng ở các tỉnh Đông Nam Bộ chỉ dừng lại ở các nội dung như: xây dựng định mức chi phí, lập dự toán, sản xuất, tiêu thụ, phân tích biến động chi phí và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp truyền thống. Qua khảo sát thực tế 43 doanh nghiệp (Phụ lục 09), tác giả nhận thấy việc vận dụng KTQTCP vào quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty chưa được quan tâm một cách chặt chẽ. Hệ thống KTQTCP của công ty chưa đặt trọng tâm vào việc cung cấp thông tin hữu ích cho việc hoạch định, tổ chức, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các thông tin được cung cấp là thông tin chi phí phục vụ lập báo cáo tài chính, mang tính chất dữ liệu của quá khứ và hiện tại, chưa có sự phân tích cụ thể các nguyên nhân hay nhân tố tác động đến chi phí và các biện pháp để kiểm soát chi phí. Trong khi đó, nhà quản trị trong doanh nghiệp rất cần các thông tin chi phí phục vụ cho quá trình quản. 3 lý điều hành, ra quyết định kinh doanh và xây dựng các chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp đứng vững trong thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Việc vận dụng KTQTCP trong các DN ngành KTCBKD đá xây dựng ở các tỉnh Đông Nam Bộ là cần thiết bởi vì vai trò của KTQTCP ngoài việc cung cấp thông tin chi phí lập báo cáo tài chính còn là cơ sở cung cấp thông tin cho việc ra quyết định và kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các nhà quản trị.
KTQTCP cung cấp thông tin cho nhà quản trị xây dựng kế hoạch, giúp quản lý và kiểm soát chi phí nhằm tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận theo mục tiêu kinh doanh. Ngoài ra, thông tin quản trị chi phí được cung cấp thông qua các báo cáo quản trị theo các trung tâm chi phí, giúp nhà quản trị đánh giá được thành quả hoạt động của từng bộ phận trong quá trình thực hiện mục tiêu chung của DN và ra các quyết định về giá bán, giá chuyển giao nội bộ và lựa chọn các phương án kinh doanh tối ưu (Hansen – Mowen, 2003). Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCP sẽ giúp cho các DN đá xây dựng một hệ thống KTQTCP hữu hiệu tập trung vào chiến lược kinh doanh nhằm đảm bảo lợi nhuận ổn định và phát triển bền vững là cần thiết. Tại Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu về việc vận dụng KTQTCP trong thời gian qua: Hoàng Thu Hiền (2017) với đề tài “Kế quản trị chi phí trong các doanh nghiệp chuyên kinh doanh nội dung số Việt Nam”; Lê Thị Hương (2017), luận án tiến sĩ “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội”; Nguyễn Quốc Thắng (2010), nghiên cứu “Tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam”.
Nguyễn Thị Ngọc Lan (2012) nghiên cứu “Tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng hóa trong các công ty vận tải đường bộ Việt Nam”. Những nội dung nghiên cứu trên chủ yếu trình bày tổ chức KTQTCP cho từng ngành nghề cụ thể và hoàn thiện công tác tổ chức KTQTCP tại các đơn vị để việc vận dụng KTQTCP vào DN đạt hiệu quả. Riêng tác giả Nguyễn Hoản (2011) và Nguyễn Hải Hà (2016) nhận định quy định quy định pháp lý, nhận thức về KTQTCP, trình độ nhân viên kế toán có ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQTCP vào trong các DN. Tuy nhiên, các tác giả chỉ nêu ra chứ chưa có kiểm định là các nhân tố có ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQTCP trong DN hay không, họ nêu ra trong phần cơ sở lý thuyết và nội dung chính của các công trình cũng tập trung vào hoàn thiện tổ.
4 chức công tác KTQTCP tại DN. Từ thực trạng nghiên cứu công tác KTQTCP tại các đơn vị trong các ngành nghề, là cơ sở để các tác giả trình bày các giải pháp và kiến nghị giúp việc tổ chức công tác KTQTCP tại DN phù hợp và hữu ích. Đặc biệt, tác giả Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) khi nghiên cứu về các nhân tố tác động kế toán quản trị chi phí chiến lược, tác giả đã nhận định và kiểm định thành công có 3 nhân tố tác động đến kế toán quản trị chi phi chiến lược như phân cấp quản lý, thành quả hoạt động, mức độ cạnh tranh. Xét về ngành KTCBKD đá xây dựng có liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên, thì chưa có công trình nào nghiên cứu về lĩnh vực này nhằm giúp các DNKTCBKD đá xây dựng hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh doanh và phát triển bền vững.
Tác giả Lê Thị Tâm (2018, 17) nhận định về kiểm soát chi phí quản lý môi trường: “Quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin chi phí môi trường cho nhà quản trị nội bộ nhằm gia tăng lợi ích kinh tế và cải thiện hiệu quả môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững”. Tóm lại, các công trình nghiên cứu trong nước về KTQTCP phần lớn đã nêu lên các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQTCP trong DN nhưng nội dung chỉ dừng lại ở đó mà tập trung vào việc xây dựng nội dung KTQTCP trong từng lĩnh vực, ngành nghề cụ thể. Các tác giả đã vận dụng KTQTCP vào trong từng lĩnh vực và đưa ra các giải pháp, kiến nghị cụ thể để việc xây dựng nội dung KTQTCP vào DN đạt hiệu quả. Nhiều công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQTCP như Herath (2007) nhận định có 5 yếu tố ảnh hưởng đến kế toán quản trị chi phí: chiến lược, tổ chức, nhu cầu thông tin, phương pháp thực hiện và văn hóa DN.
Theo Wald Ronald Gleich (2018) hoàn toàn tán thành ý kiến quản lý chi phí tốt sẽ giúp nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp, chiến lược, tổ chức, nhu cầu thông tin, phương pháp thực hiện, văn hóa DN và đã kiểm định thành công trên 251 doanh nghiệp ở các nước Châu Âu.