CHƯƠNG 1. Giới thiệu về nhựa 1. Lịch sử của nhựa Nhựa là thuật ngữ chung để nói về các vật liệu dẻo tổng hợp hay bán tổng hợp, được ứng dụng phổ biến, rộng khắp trong hầu hết các ngành công nghiệp. Thuật ngữ “Plastic” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “plastikos”, có nghĩa là phù hợp để đúc, tạo hình.
Điều này đề cập đến tính linh hoạt của vật liệu hay độ dẻo của nó trong quá trình sản xuất. Vật liệu nhựa là các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc từ nguyên liệu hóa thạch như dầu mỏ, khí tự nhiên, than đá hoặc từ nguyên liệu sinh học (xenlulozơ). Hiện nay, vật liệu nhựa được sử dụng trên thế giới có nguồn gốc chủ yếu từ nguyên liệu hóa thạch. Lịch sử của vật liệu nhựa có từ hơn 100 năm trước, so với các vật liệu truyền thống khác, vật liệu nhựa tương đối hiện đại.
Quá trình hình thành của nhựa được tóm tắt qua bảng sau: Bảng 1. Lịch sử của nhựa Năm Sự kiện Con người đã phát hiện và sử dụng các loại polyme tự nhiên (như Trước năm 1800 len, bông, da, gỗ, lụa, cao su) với sự biến đổi ít của polymer. Nhà phát minh người Mỹ Charles Goodyear đã tìm ra uy trình lưu hóa của cao su tự nhiên. Điều này giúp cao su vẫn giữ được 1839 tính đàn hồi của nó trong phạm vi nhiệt độ rộng hơn so với nguyên liệu thô và có khả năng chống dung môi tốt hơn.
Nhà phát minh người Anh Ale ander Parkes bước đầu tạo ra vật 1850 liệu nhựa bán tổng hợp – cellulose nitrate, bằng việc kết hợp và biến đổi những sợi cenlulose cùng axit nitric. Celluloid được phát minh bởi John Wesley Hyatt – một nhà hóa học người Mỹ. Đây được coi là loại nhựa đầu tiên vì nó được tạo 1868 ra bằng cách biến đổi cơ bản một loại polyme tự nhiên và sau đó đúc vật liệu tạo thành các hình dạng mới. Fredrich Kekulé (nhà hóa học người Đức) đề xuất mô hình chuỗi 1877 cho polyme Emil Fischer và Hermann Leuchs (nhà hóa học người Đức) đã đề 1893 xuất một cấu trúc chuỗi cho cellulose và sau đó tổng hợp phân tử.
Leo Baekeland – nhà hóa học người Bỉ đã công bố phát minh ra 1909 nhựa phenolic, loại polyme đầu tiên được làm hoàn toàn từ vật liệu tổng hợp. 8 Năm Sự kiện Herman Staudinger - nhà hóa học người Đức đã đề xuất cấu trúc 1924 chuỗi polyme cho polyme tổng hợp. Một số polyme được tạo ra bằng phương pháp trùng hợp bổ sung 1925-1940 đã được giới thiệu (ví dụ: PVC, PS, PE,…). Nhà hóa học người Mỹ - Wallace Carothers phát minh ra Nylon 1934 và uá trình trùng ngưng.
Giới thiệu một số polyme được tạo ra bằng phương pháp trùng 1940-1950 ngưng (ví dụ: PET, polyeste không bão hòa). Natta (nhà hóa học 1950-1955 người Ý) phát triển chất xúc tác ở áp suất thấp. Tạo ra vật liệu composite bằng cách sử dụng nhựa tổng hợp và 1955-1970 các chất khác để tăng độ cứng, bộ bền như sợi thủy tinh, sợi cacbon và sợi aramid. Mở rộng việc sản xuất các bộ phận bằng nhựa thay cho gỗ và 1970-1990 kim loại, dẫn đến giá thành thấp hơn, cải thiện chất lượng và các ứng dụng.
Các loại nhựa có cấu trúc tinh vi đã được phát triển, chúng có các tính chất đặc biệt như khả năng chịu nhiệt cao, khả năng bắt lửa 1990-2005 thấp, dẫn điện, phân hủy sinh học… Tìm ra các chất xúc tác mới cải thiện đáng kể tính chất của nhiều loại nhựa, do đó mở rộng hơn nữa khả năng của nhựa., 2006 Ngày nay, nhựa đóng góp một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày, các sản phẩm làm từ nhựa rất đa dạng, từ các sản phẩm tinh vi như khớp gối giả, khớp háng đến đồ dùng thực phẩm dùng một lần. Sự phổ biến rộng rãi của nhựa trong nhiều ứng dụng công nghiệp có thể được giải thích là do nhựa có nhiều đặc tính và tính dễ gia công của chúng. Các đặc tính của nhựa có thể được thay đổi để đáp ứng các nhu cầu cụ thể. Phân loại nhựa So với các nguyên liệu truyền thống như da, gỗ, thủy tinh, kim loại…vật liệu nhựa có một số tính chất ưu việt hơn như: khả năng chống ăn mòn, chống thấm, dễ tạo hình, sản xuất và khả năng tái sinh.
Theo tính chất, nhựa được phân thành 2 loại: nhựa nhiệt rắn và nhựa nhiệt dẻo (Christensen, Thomas H. 9 - Nhựa nhiệt dẻo: có cấu trúc gồm các chuỗi polyme dài. Khi tăng nhiệt độ, nhựa nhiệt dẻo trở nên mềm hơn và có thể gia công cơ học. Sau khi nguội sẽ đóng rắn và vẫn có thể nóng chảy lại khi tiếp tục tăng nhiệt độ.
Tuy tính cơ học không cao như nhựa nhiệt rắn nhưng có thể tái sinh nhiều lần. Một số loại nhựa nhiệt dẻo phổ biến như polyetylen (PE), polystyren (PS), polypropylen (PP) và polyvinylclorua (PVC). - Nhựa nhiệt rắn: là loại polyme có cấu trúc dạng lưới. Sau khi chịu tác động của nhiệt hoặc phản ứng hóa học sẽ không nóng chảy hay hòa tan trở lại được nữa.
Nhựa nhiệt rắn có khả năng chống mài mòn, chịu lực, nhiệt và hóa chất rất tốt, và do đó chúng khó để tái chế. Các loại nhiệt rắn phổ biến là nhựa Phenolic, aminoplasts, polyester không bão hòa (UP), epoxit (EP) và polyurethane (PUR). Ứng dụng của các loại nhựa Loại nhựa Viết tắt Ứng dụng Nhựa nhiệt dẻo Hộp đựng, đồ chơi, đồ gia dụng, bao Polyethylene mật độ cao HDPE bì công nghiệp, ống dẫn khí đốt… Pallet, màng nông nghiệp, túi, đồ Polyethylene mật độ thấp HLPE chơi, lớp phủ, thùng chứa, đường ống, bao bì… Màng, linh kiện điện, vỏ pin, hộp Polypropylene PP đựng, thùng chứa, đồ chơi… Chai đựng nước ngọt có ga, sợi dệt, Polyethylene terephthalate PET bao bì thực phẩm dạng màng… Vật liệu cách nhiệt, cuộn băng keo, Polystyrene PS cốc, đồ điện, dĩa, đồ chơi… Vật liệu xây dựng, mũ bảo hiểm xe Expanded polystyrene EPS đạp, bao bì thực phẩm, vật tư y tế, các sản phẩm tiêu dùng điện… Bao rác, lưới đánh cá, dây thừng, dây Polyamide PA an toàn,… Đồ chơi trẻ em, vỏ các thiết bị điện tử, Acrylonitrile/but ABS mũ bảo hiểm, thùng chứa, ống adiene/styrene nước,… Khung cửa, ống nước, ván sàn, cáp Polyvinyl-chloride PVC cách điện, tấm bạt che, áo mưa, máng nước, thẻ tín dụng, sản phẩm y tế… Vật liệu cách điện, màn hình thiết bị Polymethyl-methacrylate PMMA điện tử, kính chắn gió, cửa ôtô, đèn báo… Nhựa nhiệt rắn Epoxide EP Lớp phủ bảo vệ, chất kết dính Các ứng dụng trong xây dựng và hàng Polyester không bão hòa UP hải như chất độn cho sợi thủy tinh trong thuyền buồm… 10 Loại nhựa Viết tắt Ứng dụng Nệm, ghế xe, lớp lót đường ống trong Polyurethane PUR/PU ngành dầu khí, khuôn đổ bê tông, nhựa… Xử lý sợi dệt và giấy, khuôn đúc, các Aminoplast ứng dụng kết dính, công tắc và phích cắm điện, … Sản xuất ván ép, vật liệu cách nhiệt, Phenoplasts sơn mài, vecni, khuôn đúc,… Nguồn: Christensen, Thomas H., 2011 Để tạo điều kiện cho việc tái chế nhựa sau khi tiêu thụ, các hệ thống nhận dạng nhựa khác nhau đã được thiết lập. Năm 1988, Hiệp hội Công nghiệp Nhựa Hoa Kỳ (SPI) đã giới thiệu hệ thống ký hiệu và đánh số dành riêng cho bao bì nhựa cứng mà ngày nay đã trở thành bắt buộc ở nhiều quốc gia.
Ủy ban Châu Âu, Ủy ban Tiêu chuẩn hóa Châu Âu (CEN) và PlasticsEurope (trước đây là APME) - Hiệp hội nhựa Châu Âu cũng cung cấp các hệ thống tương tự. Các hệ thống ký hiệu và mã khác nhau được mô tả trong hình sau. Ủy ban CEN APME SPI Châu Âu Polyethylene terephthalate Polyethylene mật độ cao Polyvinyl chloride Polyethylene mật độ thấp Polypropylene Polystyrene Nguồn: Christensen, Thomas H. Các hệ thống ký hiệu và mã của nhựa 11 1.
Tổng quan về hiện trạng phát sinh và công nghệ xử lý chất thải nhựa hiệu quả trên thế giới 1. Hiện trạng phát sinh chất thải nhựa trên thế giới Sản lượng nhựa toàn cầu tăng từ 180 triệu tấn vào năm 2000 lên 360 triệu tấn năm 2020 (tăng gấp đôi trong 20 năm ua). Châu Á là khu vực sản xuất nhựa lớn nhất (chiếm 51%), tiếp theo là Châu Âu (16%), khu vực Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA: Canada, Mexico và Hoa Kỳ) (19%), Trung Đông, châu Phi (7%), Mỹ Latinh (4%) và Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS: Azerbaijan, Armenia, Belarus, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Nga, Tajikistan, Turkmenistan, Uzbekistan và Ukraine) (3%) (Plastics Europe, 2020). Các loại nhựa chính là PP, LDPE, HDPE, PET, PVC và PS (Awoyera và Adesina, 2020).
Ngân hàng Thế Giới cho biết rằng, thế giới đã tạo ra 242 triệu tấn chất thải nhựa vào năm 2016 - chiếm 12% chất thải rắn đô thị. Chất thải này chủ yếu có nguồn gốc từ ba khu vực - 57 triệu tấn từ Đông Á và Thái Bình Dương, 45 triệu tấn từ châu Âu và Trung Á, và 35 triệu tấn từ Bắc Mỹ (Silpa Kaza et al. Năm 2018, chất thải nhựa đã tăng lên 359 triệu tấn (Plastics Europe, 2019). Rác thải nhựa chủ yếu xâm nhập vào môi trường khi nó được quản lý kém, chẳng hạn như thông ua bãi rác lộ thiên, đốt lộ thiên và xả thải vào nguồn nước.
Ngay cả khi chất thải nhựa được thu gom, nhiều quốc gia cũng không có khả năng ử lý chúng. Năm 2017, Châu Âu đã xuất khẩu 1/6 lượng rác thải nhựa và phần lớn là sang Châu Á (Silpa Kaza et al. Sau đây là hiện trạng phát sinh chất thải nhựa tại một số nước ở Đông Nam Á và châu Âu. Các nước Đông Nam Á - Thái Lan Thái Lan là một nước sản xuất và xuất khẩu nhựa, hơn một nửa lượng nhựa được sản xuất ở Thái Lan cuối cùng được xuất khẩu.
Các ngành công nghiệp tiêu thụ nhựa lớn nhất là ngành công nghiệp bao bì (42%), điện và điện tử (16%), xây dựng (14%), ôtô (7%) và dây tóc (7%). Các ngành công nghiệp này chiếm tổng cộng 86% sản lượng tiêu thụ nhựa (World Bank Group, 2021b). Người dân Thái Lan phát sinh chất thải nhựa trung bình khoảng 74 kg/người/năm, gấp hơn hai lần mức trung bình của thế giới (29 kg/người/năm) vào năm 2018. Mỗi năm có khoảng 336 nghìn tấn nhựa bị rò rỉ ra đại dương.
Con số này tương đương với mức rò rỉ nhựa là 4,8 kg/người/năm. Và có 30% lượng rác thải nhựa phát sinh tại Thái Lan không được thu gom (IUCN-EA-QUANTIS, 2020b). Khối 12 lượng các loại nhựa được tiêu thụ tại Thái Lan vào năm 2018 được thể hiện qua hình bên dưới. Nguồn: World Bank Group, 2021b Hình 1.
Tiêu thụ nhựa tại Thái Lan năm 2018 Nhựa PP, PET, LDPE/LLDPE và HDPE là các loại nhựa được sử dụng phổ biến, chúng chiếm 78% tổng số nhựa được tiêu thụ tại Thái Lan.