phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu, sơ đồ, danh mục tài liệu tham khảo. Đề tài được kết cấu gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về KTQT CP trong DN kinh doanh dịch vụ Chƣơng 2: Thực trạng công tác KTQT CP tại VNPT Bình Định Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện KTQT CP tại VNPT Bình Định 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ 1. KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 1. Khái niệm, bản chất về kế toán quản trị chi phí Sự ra đời của hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và Luật kế toán Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của công cụ kế toán trong phát triển kinh tế.
Hệ thống kế toán Việt Nam đã có nhứng thay đổi đáng kể để phù hợp với các thông lệ kế toán quốc tế, một điều không thể thiếu trong quá trình hội nhập. Theo đó, hệ thống tài khoản kế toán mới đã hình thành, là cơ sở để từng bước xây dựng KTQT. Vậy KTQT là gì? Tại sao nó lại gắn liền và quan trọng với nền kinh tế thị trường? Thực ra, theo mục đích sử dụng thông tin, hệ thống thông tin kế toán được chia thành hai bộ phận. Một bộ phận chuyên cung cấp các thông tin cho các đối tượng bên ngoài gọi là KTTC và bộ phận cung cấp thông tin theo yêu cầu của các nhà quản trị trong nội bộ gọi là KTQT.
Môi trường cạnh tranh ngày càng gia tăng, hoạt động SXKD của DN càng phát triển và đa dạng thì vai trò của KTQT ngày càng được mở rộng. KTQT được Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa: “là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”. Theo Luật kế toán Việt Nam (khoản 3, điều 4), KTQT là “việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. 8 KTQT nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của DN như: CP của từng bộ phận, từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, CP, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa CP với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách SXKD… nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế.
KTQT là công việc của từng DN, Nhà nước chỉ hướng dẫn nguyên tắc, cách thức tổ chức và các nội dung, phương pháp KTQT chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho DN thực hiện [4,8,10]. Ngoài khái niệm KTTC và KTQT còn có khái niệm kế toán CP. Theo Viện kế toán viên quản trị của Mỹ (IMA), kế toán CP được định nghĩa là “ kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một quá trình hoặc một sản phẩm… CP này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp, kết chuyển tuỳ ý, hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý”. Nội dung của kế toán CP là tập hợp, phân loại, tính giá theo yêu cầu nhất định của KTTC.
Với KTTC, bộ phận kế toán CP có chức năng tính toán, đo lường CP phát sinh trong tổ chức theo đúng các nguyên tắc kế toán để cung cấp thông tin về giá vốn hàng bán, các CP hoạt động trên báo cáo kết quả kinh doanh và giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán. Với KTQT, bộ phận kế toán CP có chức năng đo lường, phân tích về tình hình CP và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động và các bộ phận của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động kinh doanh. Như vậy, bộ phận kế toán CP trong hệ thống KTQT được gọi là kế toán quản trị CP. KTQT CP là một bộ phận của hệ thống KTQT nhằm cung cấp thông tin về CP để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực 9 tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý.
Đối tƣợng của kế toán quản trị chi phí Đối tượng của KTQT CP là nghiên cứu CP trong mối quan hệ với việc hình thành giá trị. CP được hiểu là giá trị của mọi khoản hao phí về nhân tài, vật lực nhằm thu được các loại sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ. CP có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau để có thể cung cấp những thông tin phù hợp với nhu cầu của nhà quản trị, trong đó việc xem xét CP trong mối quan hệ với khối lượng, hay mức độ hoạt động và với lợi nhuận có thể được xem là đối tượng chủ yếu của KTQT CP. [1,4,8,10] KTQT CP nghiên cứu sâu về CP của DN theo các góc độ khác nhau như phân loại CP, dự toán CP, xây dựng định mức CP, lập các báo cáo quản trị CP nhằm mục đích kiểm soát và quản lý CP chặt chẽ và dự toán CP chính xác để tối thiểu CP.
Xét về góc độ huy động và sử dụng nguồn lực, KTQT CP gắn liền với việc phản ánh, mô tả CP, diễn biến CP trong quá trình sử dụng ở các nơi tiêu dùng các CP đó (các bộ phận hoặc trung tâm) và sự kết tinh CP thành kết quả các hoạt động. Kiểm soát thực hiện từng khâu công việc, phân tích nguyên nhân gây ra sự biến động (tăng, giảm) CP theo dự toán và thực tế để có chế độ khen thưởng, cũng như kỷ luật, quy trách nhiệm của các cá nhân, bộ phận trong DN. Điều này, cũng đồng nghĩa với việc phát huy thế mạnh trong hoạt động SXKD cũng như biện pháp ngăn chặn những điểm yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. [1,4,8,10] KTQT CP còn tập trung phân tích CP nhằm đưa ra các quyết định của nhà quản trị như đầu tư thêm hay thu hẹp hoặc chấm dứt hoạt động của bộ phận nào đó, lựa chọn các phương án đầu tư,.
Vai trò của kế toán quản trị chi phí KTQT CP là một bộ phận của hệ thống kế toán nhằm cung cấp thông tin về CP cho các nhà quản lý, giúp họ thực hiện các chức năng quản trị DN. Quản trị một DN bao gồm các chức năng cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra - đánh giá việc thực hiện kế hoạch và ra quyết định. Các chức năng này được khái quát trong sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp Để thực hiện tốt các chức năng quản trị DN, nhà quản trị cần phải đưa ra được các quyết định đúng đắn nhất cho hoạt động của DN và vai trò của KTQT CP chính là nguồn cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định. Vai trò của thông tin kế toán về CP với nhà quản trị được biểu hiện qua các chức năng như sau: @ Lập kế hoạch Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu chiến lược cho DN và vạch ra các bước cụ thể để thực hiện các mục tiêu đó.
Trong đó, dự toán là một bộ phận của kế hoạch và KTQT CP sẽ tiến hành cụ thể hoá các kế hoạch hoạt động của DN thành các dự toán SXKD. Nếu DN không lập kế hoạch đầy đủ và kỹ lưỡng mà vẫn đạt mục tiêu kế hoạch thì đó chỉ là một điều ngẫu nhiên, không vững chắc. Do đó, để chức năng lập kế hoạch và dự toán của quản lý được thực hiện tốt để các kế hoạch cùng dự toán có tính hiệu lực và tính khả 11 thi cao thì chúng phải dựa trên những thông tin hợp lý và có cơ sở do bộ phận KTQT cung cấp. KTQT CP cung cấp thông tin về CP ước tính cho các sản phẩm, dịch vụ hoặc các đối tượng khác theo yêu cầu của nhà quản lý nhằm giúp họ ra các quyết định quan trọng về đặc điểm của sản phẩm, cơ cấu sản phẩm sản xuất và phân bổ hợp lý các nguồn lực có hạn cho các hoạt động của DN.
@ Tổ chức thực hiện Với chức năng tổ chức thực hiện các nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt giữa tổ chức, con người với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch được thực hiện có hiệu quả nhất. Vì thế, nhà quản trị phải cần các thông tin khác nhau do nhiều bộ phận cung cấp, trong đó có bộ phận KTQT CP. Trên cơ sở các thông tin đó nhà quản trị cần quyết định cách sử dụng hợp lý nhất các nguồn lực của DN để đạt được các kế hoạch đã đề ra cũng như điều hành các hoạt động SXKD theo các mục tiêu chung. @ Kiểm tra và đánh giá Là xem xét đánh giá CP thực tế với kế hoạch đã xây dựng.
Qua đó biết được kết quả đạt được của từng bộ phận, chỉ ra kế hoạch nào cần điều chỉnh, bộ phận nào cần bổ trợ. đảm bảo cho hoạt động của tổ chức đạt mục tiêu. @ Ra quyết định Ra quyết định là việc thực hiện những lựa chọn hợp lý trong số các phương án khác nhau. Ra quyết định không phải là một chức năng riêng biệt, nó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu trong quá trình quản lý một tổ chức, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra đánh giá.
Chức năng ra quyết định được vận dụng liên tục trong suốt quá trình hoạt động của DN. PHÂN LOẠI CHI PHÍ KINH DOANH DỊCH VỤ 1. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt đ ng Theo cách phân loại này CP được tập hợp và quản lý căn cứ mục đích, công dụng đối với quá trình hoạt động của DN. Cách phân loại này giúp cho kế toán, nhà quản lý nhận thức được vai trò, vị trí của CP đối với từng hoạt động SXKD khác nhau trong DN.