CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ, TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm trong các DNSX và vai trò của kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm. Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1. Khái niệm chi phí sản xuất Thuật ngữ chi phí có từ thời trung cổ (từ thế kỷ thứ V sau công nguyên) từ đó cho đến nay người ta vẫn quan niệm chi phí như là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy sự thu về.
Xét về bản chất, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hoá thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình doanh nghiệp khai thác, sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn … để sản xuất kinh doanh sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. Đó là quá trình doanh nghiệp bỏ ra các chi phí về lao động sống như: chi phí tiền lương, tiền công, tiền trích bảo hiểm xã hội … gắn với việc sử dụng lao động, chi phí về lao động vật hoá như chi phí về nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ, tài sản cố định … để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ có những chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất mới được tính vào chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất phát sinh thường xuyên trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất được tập hợp theo thời kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm. Vì vậy, khái niệm đầy đủ: chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của tổng số hao phí lao động sống cần thiết, hao phí lao động vật hoá và các chi phí khác ( như lãi vay, các khoản bảo hiểm xã hội …) liên quan đến quá trình sản xuất mà doanh nghiệp phải chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định. Trong đó : + Hao phí lao động sống: biểu hiện như tiền lương, các khoản trích theo lương của người lao động phát sinh ghi vào chi phí sản xuất. 10 + Hao phí lao động vật hoá: biểu hiện của nó là giá trị nguyên vật liệu sử dụng, công cụ dụng cụ xuất dùng, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho sản xuất.
Đây là các tư liệu lao động và đối tượng lao động được người lao động tác động và chuyển hóa thành sản phẩm. Theo chuẩn mực VAS 01 – “Chuẩn mực chung” thì “Chi phí là tổng giá trị khoản làm giảm lợi ích trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Xét theo tính chất cá biệt thì chi phí sản xuất bao gồm tất cả các chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để tồn tại và tiến hành các hoạt động sản xuất, bất kể đó là chi phí cần thiết hay không cần thiết, khách quan hay chủ quan. Tuy nhiên, trong cùng một thời kỳ, ở cùng một doanh nghiệp chi phí và chi tiêu không hoàn toàn giống nhau cả về định lượng và định tính, có trường hợp chi phí nhưng không phải là chi tiêu và ngược lại có khoản chi tiêu nhưng chưa hoặc không phải là chi phí.
Chi tiêu của doanh nghiệp là sự chi ra, sự giảm đi thuần tuý của tài sản doanh nghiệp không kể các khoản đã dùng vào việc gì và dùng như thế nào. Mặc dù chi tiêu là cơ sở của chi phí song chi phí của doanh nghiệp sẽ không bao gồm các khoản chi tiêu có đặc điểm sau: - Các khoản chi tiêu làm giảm 1 tài sản này nhưng làm tăng 1 tài sản khác hoặc làm giảm 1 khoản nợ phải trả trong doanh nghiệp. - Các khoản chi tiêu làm tăng 1 khoản nợ phải trả nhưng đồng thời làm tăng 1 tài sản hoặc giảm 1 khoản nợ phải trả khác của doanh nghiệp. Như vậy, chi phí chỉ bao gồm các trường hợp làm giảm tài sản hoặc tăng khoản nợ phải trả nhưng không kèm theo các biến động khác.
Do có sự không phù hợp giữa thời gian phát sinh các khoản chi tiêu và thời gian phát huy tác dụng của nó đối với thu nhập của doanh nghiệp nên chi phí và chi tiêu có sự khác biệt về thời gian: Khoản chi tiêu ở kỳ này nhưng còn được chờ phân bổ ở kỳ sau (chi phí trả trước). Khoản được tính vào chi phí của kỳ này ( chi phí phải trả ) nhưng chưa được 11 chi tiêu (sẽ chi ở các kỳ sau). Còn theo Giáo trình kế toán quản trị (2004), trường Đại học Kinh tế quốc dân: Chi phí là một khoản hao phí bỏ ra để thu được một số sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Bản chất của chi phí phải mất đi để đổi lấy một khoản thu về.
Các khái niệm trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, về mức độ khái quát nhưng đều thể hiện bản chất của chi phí là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy sự thu về, có thể thu về dưới dạng vật chất định lượng được như số lượng sản phẩm hoặc thu về dưới dạng tinh thần hay dịch vụ được phục vụ. Khái niệm giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí lao động sống và lao động vật hóa mà DN bỏ ra có liên quan đến khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ và dịch vụ đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm là thước đo giá trị và cũng là một đòn bẩy kinh tế, nó là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý của DN, là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình hoạt động SXKD cũng như tính đúng đắn của các giải pháp mà DN đã thực hiện nhằm mục đích hạ thấp chi phí, tăng lợi nhuận. Tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của mỗi ngành SX, kết cấu giá thành bao gồm các khoản mục chi phí khác nhau, ví dụ trong ngành sản xuất công nghiệp, giá thành bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí SX chung.
Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1. Phân loại chi phí sản xuất Phân loại chi phí theo yếu tố Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành: + Chi phí nguyên vật liệu: Là toàn bộ giá trị các loại nguyên vật liệu chính, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu xây dựng cơ bản….mà doanh nghiệp đã sử dụng cho hoạt động SX. 12 + Chi phí nhân công: Là toàn bộ tiền lương, tiền công phải trả, tiền trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của công nhân và nhân viên hoạt động SX trong doanh nghiệp. + Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ tiền trích khấu hao TSCĐ sử dụng cho SX của doanh nghiệp.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp chi trả về các dịch vụ mua ngoài như tiền điện, tiền nước….phục vụ cho hoạt động SX của doanh nghiệp. + Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các chi phí khác dung cho hoạt động SX ngoài 4 yếu tố trên. Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí trong giá thành sản xuất Theo quy định, giá thành sản xuất, trừ ngành xây dựng cơ bản, bao gồm 3 khoản mục chi phí là: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào việc chế tạo sản xuất sản phẩm. + Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các chi phí về tiền lương, phụ cấp phải trả và các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ trên tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất.
+ Chi phí sản xuất chung: Là chi phí dùng cho việc quản lý và phục vụ sản xuất cho bộ phận sản xuất, phân xưởng sản xuất. Phân loại chi phí sản xuất theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành Theo cách này, toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp. + Biến phí: Là những chi phí thay đổi về tổng số khi có sự thay đổi về khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành, chẳng hạn như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp….Biến phí thay đổi theo tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành, nhưng lại là hằng số nếu tính trên một đơn vị sản phẩm. + Định phí: Là những chi phí không đổi so với khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí về thuê mặt bằng 13 SX….Định phí tính cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành sẽ thay đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi.
+ Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tố của định phí và biến phí. Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp vào các đối tượng kế toán chi phí + Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí mà kế toán có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí. Trong quản trị doanh nghiệp nói chung và kế toán quản trị nói riêng, nếu loại chi phí này chiếm đa số trong tổng chi phí thì sẽ thuận lợi cho việc kiểm soát chi phí và dễ dàng trong việc xác định nguyên nhân gây ra chi phí. + Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí được mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi chúng phát sinh, sau đó quy nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp.
Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định + Chi phí kiểm soát được: Là chi phí mà các nhà quản trị ở một cấp quản lý nào đó xác định được lượng phát sinh của nó, có thẩm quyền quyết định về sự phát sinh chi phí đó, cấp quản lý đó kiểm soát được những chi phí này.