CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về kế toán quản trị chi phí môi trường Khái niệm kế toán môi trường: Theo định nghĩa của Viện Kế toán quản trị môi trường. Kế toán môi trường là việc xác định, đo lường và phân bổ chi phí môi trường, kết hợp chi phí môi trường trong quyết định kinh tế, công bố thông tin cho các bên liên quan (International Guidance Document, USA, 2005) Theo tài liệu hướng dẫn thực hành kế toán môi trường của Nhật Bản. Kế toán môi trường có mục tiêu hướng tới sự phát triển bền vững, duy trì mối quan hệ tốt đẹp với cộng đồng và theo đuổi các hoạt động bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động bình thường, xác định lợi ích từ các hoạt động, cung cấp cách thức định lượng và hỗ trợ phương thức công bố thông tin.
Cơ quan Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc (UNDSD) thống nhất giữa các nhóm chuyên gia đến từ 30 quốc gia đã đưa ra định nghĩa như sau: “Hạch toán quản lý môi trường là việc nhận dạng, thu thập, phân tích và sử dụng loại thông tin cho việc ra quyết định nội bộ. Thông tin vật chất (phi tiền tệ) về sử dụng, luân chuyển và thải bỏ năng lượng, nước và nguyên vật liệu (bao gồm chất thải) và thông tin tiền tệ về các chi phí, lợi nhuận và tiết kiệm liên quan đến môi trường”. (Environmental Management Accounting, IFCA,2005) Kế toán môi trường còn là cơ sở cho việc cung cấp thông tin ra bên ngoài phạm vi DN đến các bên liên quan như: Các ngân hàng, tổ chức tài chính, các cơ quan quản lý môi trường, cộng đồng dân cư. Khái niệm kế toán tài chính môi trường: Theo sách Kế toán môi trường trong doanh nghiệp, Phạm Đức Hiếu và Trần Thị Hồng Mai (2012): “Kế toán tài chính môi trường có nhiệm vụ ghi nhận, đo lường và khai báo các tác động môi trường trong báo cáo tài chính.
Kế toán tài chính môi trường cung cấp thông tin môi trường kết hợp trong báo cáo tài chính, do đó cũng có đặc điểm như kế toán tài chính” Kế toán quản trị chi phí môi trường (ECMA) phát triển mạnh trong 20 năm trở lại đây và được coi là bước tiến cho sự phát triển của kế toán môi trường; là một Luan van 8 trong những khía cạnh quan trọng của EMA hay là một thành phần cốt lõi của EMA (Schaltegger & Burrit, 2005). Vai trò quan trọng của ECMA trong hệ thống EMA được nhiều tác giả chứng minh. Burrit & Saka (2004) định nghĩa EMA là công cụ quản trị môi trường mới được thiết kế để thu thập và theo dõi EC và dòng vật liệu. Hệ thống EMA ngày càng giữ vai trò lớn trong đó ECA nhận được sự chú ý nhất (Schaltegger & Wagner, 2005).
Mục tiêu quan trọng nhất của EMA là phải đảm bảo rằng tất cả EC liên quan đều được xem xét khi đưa ra quyết định kinh doanh. Schaltegger & cộng sự (2011) lập luận rằng một trong những chủ đề thu hút sự chú ý nhất của EMA đó là ECA. Do ECMA là thuật ngữ mở rộng của MA cũng là bộ phận cốt lõi của EMA nên tác giả đưa ra định nghĩa về ECMA như sau: ECMA là quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin chi phí môi trường cho quản trị nội bộ nhằm gia tăng lợi ích kinh tế và cải thiện hiệu quả môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Theo quan điểm truyền thống, EC được coi như là chi phí bảo vệ môi trường và công nghệ môi trường cuối đường ống, chẳng hạn như các chi phí liên quan làm sạch các địa điểm sau khi sản xuất, chi phí xử lý nước thải.
Chính sách quản lý môi trường tập trung vào các chi phí xử lý môi trường và công nghệ cuối đường ống có thể tạo ra lợi nhuận trong ngắn hạn, nhưng điều này sẽ là tốn kém trong dài hạn vì nó sẽ làm gia tăng chi phí chất thải do sử dụng các nguồn lực không hiệu quả. Một quan điểm rộng hơn cho thấy EC bao gồm các chi phí trực tiếp và gián tiếp liên quan đến việc sử dụng vật liệu và năng lượng, cộng thêm chi phí xử lý có liên quan, bảo hiểm trách nhiệm môi trường và chi phí quản lý môi trường bao gồm cả chi phí tuân thủ và phí cấp giấy phép, khoản tiền phạt (Schaltegger & Wagner, 2005; Schaltegger & Burritt, 2002). Phân loại EC phụ thuộc vào các thông tin chi phí sẽ được sử dụng, vào phạm vi hoặc quy mô xác định. Sự cân nhắc trong mối quan hệ với EC thường bao gồm: Các chức năng quản lý (kiểm soát nội bộ và trách nhiệm); Các quyết định cụ thể được thực hiện (ví dụ như đầu tư vốn); Vai trò của người quản lý trong các chuỗi giá trị (ví dụ như thiết kế, sản xuất); Trách nhiệm của người quản lý (nhà quản trị Luan van 9 cấp cao, cấp trung, cấp cơ sở); Các hệ thống đánh giá (đánh giá hiệu quả môi trường) (Burritt, 2004).
Để thực hiện được mục tiêu quản lý EC đòi hỏi một sự thay đổi về cách nhìn nhận đối với EC. Xác định và đo lường các EC liên quan đến một sản phẩm, quá trình hoặc hệ thống rất quan trọng cho việc thực hiện các quyết định quản trị. Các chi phí xử lý ô nhiễm, quản lý chất thải, giám sát, báo cáo quy định, chi phí pháp lý đã tăng lên với tốc độ nhanh trong suốt 30 năm qua, đặc biệt là khi các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe hơn. Hệ thống MA truyền thống đã không tạo ra cơ hội cho nhà quản lý để giảm chi phí và cũng như không nhận thức được quy mô của EC.
Bằng việc phân loại EC, ECMA sẽ cho phép nhà quản lý hiểu chính xác những khía cạnh cần phải được nhấn mạnh để làm cho chi phí trở nên hiệu quả hơn và hỗ trợ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát, ra quyết định (Schaltegger & Burritt, 2002). Nội dung kế toán quản trị chi phí môi trường 1. Thông tin trong kế toán quản trị chi phí môi trường 1. Thông tin môi trường hiện vật ECMA chú trọng đặc biệt vào các thông tin môi trường hiện vật của dòng năng lượng, nước, vật liệu và chất thải.
Đó là bởi vì chi phí vật liệu được coi là chi phí chiếm đáng kể và rất nhiều các tác động môi trường của tổ chức có liên quan trực tiếp đến việc sử dụng các nguồn lực và phát sinh chất thải (IFAC, 2005). Các thông tin hiện vật được thu thập trong ECMA là cần thiết cho việc xác định EC và cho phép một tổ chức xem xét, đánh giá các thông tin hiện vật liên quan đến hoạt động môi trường. Để thiết lập các mục tiêu môi trường và có thể đo lường tác động môi trường một cách hiệu quả, việc theo dõi nguồn lực sử dụng và chất thải phát sinh là cần thiết. Thông tin hiện vật không cung cấp tất cả các dữ liệu để quản lý hiệu quả các tác động môi trường, nhưng nó là thông tin cần thiết mà chức năng kế toán có thể cung cấp.
Các thông tin hiện vật được thu thập trong ECMA là chìa khóa cho sự phát triển của nhiều EC. Một khi dữ liệu hiện vật đã được thu thập, chúng sẽ hỗ trợ cho ECMA và để tạo ra các chỉ số hiệu quả môi trường (EPIs) giúp tổ chức đánh giá và báo cáo các khía cạnh liên quan đến hoạt động môi trường. Và Luan van 10 thậm chí, trong việc ra quyết định hằng ngày, thông tin hiện vật còn hữu ích hơn thông tin tiền tệ (Bennett & James, 2000). Việc theo dõi lượng vật liệu, nước và năng lượng sử dụng cho sản xuất đem lại nhiều lợi ích.
Ví dụ, các hoạt động khai thác các vật liệu như đất sét, than, dầu, khí tự nhiên và các khoáng chất khác đều có tác động lớn đối với môi trường xung quanh. Để quản lý hiệu quả và giảm thiểu tác động môi trường từ chất thải, tổ chức phải có dữ liệu chính xác về số lượng và dòng vật liệu sử dụng. Thông tin môi trường hiện vật được sử dụng như một công cụ quản lý nội bộ để đối phó với những tác động môi trường. Theo Schaltegger & Burritt (2000), thông tin hiện vật như là một kỹ thuật để hỗ trợ quá trình ra quyết định liên quan đến kiểm soát hoạt động môi trường, là một công cụ không thể thiếu trong việc đo lường hiệu quả môi trường và giúp phát triển các công cụ khác.
Thông tin môi trường tiền tệ Theo quan điểm thông thường, EC đề cập đến đầu tiên là các chi phí được định hướng bởi những nỗ lực để kiểm soát hay ngăn chặn thiệt hại về môi trường, bao gồm: chi phí ngăn chặn sự phát sinh chất thải; chi phí kiểm soát và xử lý chất thải; chi phí cho khắc phục hậu quả do ô nhiễm môi trường gây ra. Những chi phí này được gọi chung là chi phí bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, EC trong ECMA không chỉ bao gồm chi phí bảo vệ môi trường, mà còn là các thông tin tiền tệ cần thiết để quản lý hoạt động môi trường của tổ chức một cách hiệu quả như chi phí tài nguyên (ví dụ như năng lượng, nước, vật liệu) (IFAC, 2005). Chi phí tài nguyên được sử dụng để đánh giá hoạt động quản lý môi trường liên quan đến việc sử dụng vật liệu và cả sản phẩm và chất thải tạo ra (IFAC, 2005).
Thông tin EC giúp phục vụ cho việc lập kế hoạch chiến lược, cung cấp nền tảng chính cho các quyết định để đạt được mục tiêu mong muốn. Thông tin này có thể được thu thập dựa trên hệ thống MA truyền thống (Herzig, 2012). Thông tin tiền tệ giúp giải quyết các khía cạnh môi trường từ hoạt động của tổ chức do đó có thể phục vụ như là cơ sở cho việc cải thiện hoạt động môi trường. Ngoài ra, thông tin tiền tệ cũng tập trung vào các khía cạnh tài chính và vì vậy nó Luan van 11 cũng rất hữu ích để thiết lập các mục tiêu kinh doanh (Burritt, Hahn & Schaltegger, 2002; Schaltegger & Burritt, 2000; Chang, 2007).
EC phù hợp với hoạt động của 1. Nhận diện chi phí môi trường 1. Căn cứ vào nội dung, công dụng của chi phí Cách phân loại này dựa trên quan điểm phân loại của UNIDO (2003), IFAC (2005), JMOE (2005) theo đó EC chia thành 5 loại: ❖ Chi phí kiểm soát và xử lý chất thải Loại này bao gồm các chi phí kiểm soát và xử lý tất cả các dạng chất thải (chất thải rắn, chất thải nguy hại, nước thải và khí thải).