MỞ ĐẦU 1. Tính ấp thiết ủ đề tài Nền kinh tế thị trƣờng với xu hƣớng toàn cầu hóa đã dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng khốc kiệt giữa các công ty, để tồn tại các công ty cần phải duy trì lợi thế cạnh tranh với một nguồn lực hạn chế. Và chất lƣợng sản phẩm đƣợc xem là yếu tố cạnh tranh quyết định lâu dài của một công ty. Vấn đề đặt ra là chất lƣợng thƣờng đƣợc thể hiện dƣới dạng các thuật ngữ kỹ thuật của các chuyện gia và không dễ hiểu đối với các nhà quản lý, vốn chỉ quan tâm đến lợi nhuận, các phép đo tài chính.
Đồng thời, Ebrahim Koohi Ghasghaee1 và Jamal Fathollahi (2014) đã nhận định việc tăng chi phí chất lƣợng sẽ làm tỷ lệ chi phí bán hàng. Do đó, các nhà quản lý ngày càng quan tâm đến việc nhận diện, ghi nhận, đo lƣờng, phân tích các chi phí để đạt đƣợc chất lƣợng một cách phù hợp. Và mô hình kế toán chi phí chất lƣợng là nền tảng cơ sở lý thuyết hỗ trợ hữu ích cho các nhà quản lý. Mô hình kế toán chi phí chất lƣợng sẽ chỉ ra cơ hội thực hiện các hoạt động cải tiến chất lƣợng hiệu quả.
Đó là, nhà quản lý sẽ biết đƣợc đâu là chi phí để đảm bảo chất lƣợng của công ty, đồng thời biết đƣợc cần tăng cƣờng hay cắt giảm nguồn lực ở đâu để chi phí đảm bảo chất lƣợng là thấp nhất. Tuy nhiên, chi phí doanh nghiệp thƣờng cao hơn khi mức chi phí bỏ ra để đảm bảo chất lƣợng thấp hơn yêu cầu (Sörqvist 1998). Chính điều này đã bắt đầu thôi thúc nhiều cộng đồng học thuật trên thế giới quan tâm hơn về việc nghiên cứu mô hình kế toán chi phí chất lƣợng. Tuy nhiên phần lớn những nghiên cứu trên thế giới cho thấy việc áp dụng các phƣơng pháp mô hình kế toán chi phí 2 chất lƣợng vẫn còn hạn chế, theo O'Guin (1991) điều này ngăn cản các nhà quản lý xác định vị trí của các cơ hội cải tiến chất lƣợng.
Thấy đƣợc tầm quan trọng của kế toán chi phí chất lƣợng trong nền kinh tế cạnh tranh quốc tế, các nhà quản lý Việt Nam bắt đầu quan tâm các chỉ tiêu tài chính phát sinh liên quan đến chất lƣợng. Tuy nhiên, khái niệm mô hình kế toán chi phí chất lƣợng đƣợc xem nhƣ là một khái niệm khá mới với các công ty Việt Nam. Qua nghiên cứu trên các trang thông tin, tác giả có thể nói rất ít hoặc gần nhƣ không có nghiên cứu xác thực đƣợc công bố, thậm chí nếu có chỉ dừng lại ở các bài viết thống kê lại các lý thuyết đã đƣợc công bố trên thế giới mà chƣa có những bài viết áp dụng thực tiễn tại các doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, theo Malmi et al.
(2004) cho rằng mô hình kế toán chi phí chất lƣợng đƣợc thể hiện rõ nét trong các tổ chức sản xuất với các quy trình sản xuất liên tục, lặp đi lặp lại, với một trình tự nhất định, trong đó các hoạt động giống hệt nhau hoặc tƣơng tự nhau. Dựa theo phân tích đó, tác giả nhận thấy cần thiết xây dựng mô hình kế toán chi phí chất lƣợng áp dựng thực tiễn tại công ty sản xuất Việt Nam. Tại Việt Nam, ngành sản xuất gạch ốp lát là một trong số ít các ngành công nghiệp vƣơn lên tầm cỡ khu vực và thế giới. Tổng công suất hiện đạt tới 500 triệu m2/năm, đứng đầu Đông Nam Á và thứ 6 thế giới.
Đặc biệt, ngành gạch men Việt Nam sau giai đoạn khó khăn 2011-2013 đã bắt đầu hồi phục mạnh từ năm 2014 với sản lƣợng sản xuất và tiêu thụ tăng mạnh nhờ sự phục hồi của thị trƣờng bất động sản, theo báo cáo ngày gạch men 2016 (Phí Quốc Tuấn(2016)). Tuy có sự tăng trƣởng lại về nhu cầu nhƣng kèm theo đó là tính cạnh tranh ngày càng gay gắt (cả nƣớc có khoảng 40 doanh nghiệp) do đối mặt với các nhà sản xuất nƣớc ngoài đặc biệt là các công ty trung quốc với giá rẻ, mẫu mã đẹp nhƣ Taicera, Bạch Mã, Prime,. do đó để có thể duy trì tính cạnh tranh, các công ty trong ngành gạch men phải cung cấp sản phẩm chất lƣợng cao, vốn là lợi thế cạnh tranh của các công ty Việt Nam, trong phạm vi 3 nguồn lực hạn chế của mình. Qua đó, các công ty trong ngành sản xuất gạch là một lựa chọn hợp lý để xây dựng mô hình kế toán chi phí chất lƣợng.
Công ty Cổ phần gạch men Cosevco là một trong những ba công ty có lịch sử lâu đời nhất Việt Nam (từ năm 1996) với dây chuyền thiết bị hiện đại của hãng SACMI-ITALY (một trong những công ty hàng đầu thế giới về sản xuất dây chuyền thiết bị gạch men). Công ty đứng trong top các công ty ngành gạch, đứng đầu khu vực Miền trung Tây Nguyên với nhiều giải thƣởng lớn nhƣ: Giải thƣởng vàng chất lƣợng Châu u (giải thƣởng thiên niên kỷ mới-2001), Hàng Việt Nam chất lƣợng cao nhiều năm liền, giải thƣởng Top 100 cúp vàng thƣơng hiệu Việt hòa nhập WTO và giải thƣởng Thƣơng hiệu xanh do Hiệp hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam trao tặng. Nhƣ vậy có thể thấy công ty cổ phần gạch men Cosevco có các yếu tố đặc trƣng của ngành. Tuy nhiên, hiện tại công ty chƣa có mô hình để nhận diện, ghi nhận, đo lƣờng, từ đó đƣa ra các phân tích tác động của các chi phí liên quan đến chất lƣợng.
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn, khoản trống nghiên cứu nêu trên, tác giả quyết định thực hiện đề tài: “Xây ựng mô hình ế toán hi phí hất lƣợng tại Công ty Cổ phần Gạ h men Cosevco”. Mụ tiêu nghiên ứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là Xây dựng mô hình kế toán chi phí chất lƣợng tại công ty cổ phần gạch men Cosevco. Để đạt đƣợc điều này, nghiên cứu xác định cần thực hiện đƣợc các mục tiêu thành phần sau: 1. Xác định mô hình kế toán chi phí chất lƣợng phù hợp áp dụng cho công ty Cosevco.
Xác định các chi phí chất lƣợng trong mô hình kế toán chi phí chất lƣợng của công ty Cosevco dựa trên đặc điểm của công ty. Đo lƣờng đƣợc các chi phí chất lƣợng đã xác định một cách hợp lý. Cụ thể hóa cách thức áp dụng mô hình kế toán chi phí chất lƣợng tại công ty cổ phần gạch men Cosevco. Đối tƣợng và phạm vi nghiên ứu Đối tƣợng nghiên cứu: Cách thức xây dựng mô hình kế toán chất lƣợng của Công ty cổ phần gạch men Cosevco Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn Công ty cổ phần Gạch men Cosevco.
- Phạm vi về mặt thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn 2014-2016. Phƣơng pháp nghiên ứu Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập thông tin thông qua đọc sách báo, tài liệu nhằm tìm, chọn những khái niệm và tƣ tƣởng cơ bản là cơ sở cho lý luận của đề tài, dự đoán về những thuộc tính của công ty cổ phần gạch men Cosevco tác động đến mô hình kế toán chi phí chất lƣợng, xác định một mô hình lý thuyết ban đâu. Phƣơng pháp nghiên cứu tình huống: Trên cơ sở mô hình kế toán chi phí chất lƣợng lý thuyết thông qua phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết, tác giả quan sát, điều tra chuyên gia, phân tích để xây dựng mô hình kế toán chi phí chất lƣợng phù hợp với công ty. Bố ụ đề tài - Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về mô hình kế toán chi phí chất lƣợng.
- Chƣơng 2:Tổng quan về công ty cổ phần gạch men Cosevco. - Chƣơng 3: Xây dựng mô hình kế toán chi phí chất lƣợng tại công ty cổ phần gạch men Cosevco. Tổng qu n tài liệu nghiên ứu 6. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới từ khi kế toán chi phí chất lƣợng đƣợc đề cập đến lần đầu tiên bởi Juran (1952), sau đó đã có nhiều các nghiên cứu lý thuyết về mô hình kế toán chi phí chất lƣợng.
Vậy có các loại mô hình kế toán chi phí chất lƣợng nào, mô hình nào là mô hình kế toán chi phi chất lƣợng tối ƣu áp dụng trong 5 bối cảnh nền kinh tế Việt Nam. Khái niệm kế toán chi phí chất lƣợng đƣợc đề cập lần đầu tiên trong cuốn Quality Cost Handbook của Juran (1952). Theo ông, thuật ngữ "kế toán chi phí chất lƣợng" có ý nghĩa là nhận diện, đo lƣờng, phân tích các chi phí phát sinh do việc kém chất lƣợng gây ra (chủ yếu là chi phí tìm và sửa chữa các sản phẩm bị lỗi). Theo quan điểm này, kế toán chi phí chất lƣợng đã giới hạn trong các chi phí kiểm tra và thử nghiệm các sản phẩm đã hoàn thành.
Các chi phí kém chất lƣợng khác thƣờng đƣợc ghi nhận là chi phí đầu vào và không đƣợc coi là chi phí để đảm bảo chất lƣợng. Vào năm 1988, Juran (1988) đã đƣa ra kết luận các chi phí liên quan đến chất lƣợng rất lớn, có thể vƣợt quá 20% doanh thu của các công ty sản xuất và 35% doanh thu của các công ty cung cấp dịch vụ; 95% chi phí này sử dụng cho việc thẩm định và sửa lỗi. Các chi phí này không tạo ra giá trị gia tăng vào giá trị của sản phẩm và dịch vụ mà nó giúp tránh đƣợc các chi phí không cần thiết làm cho tổng chi phí của hàng hóa và dịch vụ tăng. Để khắc phục thiếu sót trong quan điểm của Juran, nhiều nhà nghiên cứu đã đƣa ra các định nghĩa mở rộng gắn với các mô hình kế toán chi phí chất lƣợng cải tiến hơn: - Mô hình kế toán chi phí chất lƣợng PAF cổ điển của Feigenbaum (1956) ghi nhận, đo lƣờng, phân tích chi phí chất lƣợng thành các hạng mục Ngăn ngừa - Thẩm định - Thất bại (Thất bại nội bộ và thất bại bên ngoài), - Mô hình kế toán chi phí chất lƣợng của Crosby (1986) đƣợc thể hiện trong cuốn sách “Chất lƣợng là miễn phí”, nhấn mạnh rằng chất lƣợng có nghĩa là phù hợp, chi phí chất lƣợng là chi phí của việc làm sai.