CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NC Trong chương này, tác giả chủ yếu trình bày các NC có liên quan đến đề tài của tác giả theo dòng NC cụ thể. Điều này giúp cho tác giả tìm ra khoảng trống để định hướng cho NC của mình. Đối với các NC về các NTTĐ đến KTMT tác giả chỉ khảo lược qua các NC trước chưa phân loại theo từng NTTĐ nhưng cũng từ đây tác giả tìm ra các nhân tố có nhiều khả năng sẽ tác động đến KTMT sẽ trình bày ở chương 2. Tổng quan các NC trên thế giới Môi trường là một phần không thể tách rời trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống con người (Md.
Hafij Ullah và cộng sự, 2014). Các hoạt động của tổ chức, DN, con người đều có liên hệ một cách trực tiếp hay gián tiếp đến MT xung quanh. Từ những năm 1970 xã hội bắt đầu quan tâm về TĐMT do hoạt động của các DN, và KTMT cũng xuất hiện trong giai đoạn này do sự gia tăng nhận thức về MT cũng như mối quan tâm về phúc lợi xã hội và MT (Hecht, 2000). Song song đó, KTMT ngày càng được quan tâm bởi các nhà điều hành DN và những người ủng hộ MT như là một sự bổ sung cần thiết để cải thiện MT, ra quyết định trong khu vực tư nhân (James Boyd,1998), đánh giá các lợi ích của KTMT và đề ra các giá trị, các yếu tố quyết định đến việc thay đổi, nâng cao chất lượng TTKT, xác định các cải thiện về KTMT sẽ mang lại nhiều lợi ích về tài chính và môi trường.
KTMT gồm có 03 lĩnh vực cụ thể là: KTMT trong bối cảnh quốc gia đề cập đến kế toán nguồn TNTN, có thể dẫn đến số liệu thống kê về một quốc gia hoặc khu vực mức độ, chất lượng, và giá trị của nguồn TNTN, cả tái tạo cũng như không tái tạo. KTMT trong bối cảnh KTTC thường đề cập đến việc chuẩn bị BCTC cho bên ngoài bằng cách sử dụng nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận. KTMT như một khía cạnh của KTQT phục vụ nhà quản trị đề ra các quyết định đầu tư về chi phí, thiết kế SX sản phẩm, đánh giá hiệu quả, và cả một loạt các những quyết định kinh doanh tương lai (USEPA, 1995). Đến nay có nhiều NC về KTMT trên thế giới, tác giả đã tìm hiểu và thống kê theo các chủ đề NC như sau:.
9 - Các NC có liên quan đến KTMT: Những NC này cho thấy các DN có CBTTMT, KTMT hay không và mức độ công bố, hay có KTQTMT hay không, mức độ thực hiện KTQTMT. - Các NC liên quan đến NTTĐ đến KTMT: Dòng NC về nguyên nhân, các NTTĐ đến công bố thông tin môi trường (CBTTMT), KTQTMT - Các NC liên quan đến MQH giữa KTMT với KQHĐ của DN bao gồm: (1) Các NC liên quan đến MQH giữa CBTT về KTMT với lợi ích, hiệu quả tài chính, MT của DN. (2) Những NC về việc tổ chức KTQTMT sẽ cũng cấp nhiều thông tin hữu ít qua đó khuyến khích việc tổ chức KTQTMT để đạt được nhiều lợi ích trong kinh doanh. Các NC có liên quan đến KTMT 1.
Các NC liên quan đến công bố thông tin KTMT trong DN Sự phát triển kinh tế, SX công nghiệp thế giới đã gây ra những tác động tiêu cực cho MT, trong đó, các DN được xem là nguyên nhân chính của các vấn về MT và phải đối mặt áp lực rất lớn từ chính phủ, nhà đầu tư, các tổ chức tài chính, xã hội,…. Trong bối cảnh phát triển KT-XH một cách bền vững, để giảm những áp lực này, bên cạnh việc tối đa hóa giá trị cho cổ đông các DN đã tìm cách giảm tác động tiêu cực đến MT, tự nguyện báo cáo các hoạt động hoạt động MT của họ (Halil Emre Akbas1 và Seda Canikli, 2014). Thông tin KTMT được cung cấp trong BCHN hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác (Gray và cộng sự. Báo cáo kinh doanh thông qua việc tự nguyện báo cáo thêm thông tin phù hợp với sự quan tâm của nhà đầu tư, các cổ đông được qui định bởi FASB (2001), và UNCTAD (1998, 2002) đã đưa ra các hướng dẫn cụ thể cho việc ghi nhận các CPMT, NPTMT cũng như CBTT trên báo cáo môi trường (BCMT).
Việc sử dụng KTMT ngày càng gia tăng, các DN lớn công bố ngày càng thêm nhiều TTMT trong các BCHN nhằm tạo ý thức về MT (Shil và Iqbal, 2005), và sự quan tâm đối với MT không bị cô lập trong một khu vực hay trong một văn hóa cụ thể, mà nó đã thu hút sự chú ý toàn cầu (Gamble và cộng sự, 1996). Tuy nhiên, không có NC về BCMT trong các BCHN của DN trước những năm 1970, mặc dù có nhiều NC về thực hiện KTMT của các tập đoàn khác nhau (Shil và Iqbal, 2005). Từ những năm 1970, việc CBTTMT đã. 10 bắt đầu trong các BCHN của các tổ chức khác nhau (Kokubu và cộng sự, 2002).
Việc CBTT về KTMT sẽ giúp cho người sử dụng có nhiều thông tin hơn khi ra quyết định, và nhu cầu đối với TTMT, KTMT trong các BCHN là rất lớn (Afzal Ahmad, 2012). Phần lớn người sử dụng thông tin cho rằng TTMT là trọng yếu cho quyết định của họ và họ tìm kiếm thông tin này trong BCTC, báo cáo thường niên (BCTN) của công ty (Rankin, Michaela, 1997), và TTMT được mong muốn hơn bất kỳ thông tin xã hội nào khác (Hughes và cộng sự, 2001). Mặc dù người dùng thường tin rằng TTMT là trọng yếu, nhưng phần lớn nhóm người dùng xếp hạng TTMT sau thông tin tài chính truyền thống như lợi nhuận, tài sản ròng, luồng tiền và thanh toán cổ tức (Rankin và Michaela, 1997). Một trong những lý do làm gia tăng mối quan tâm về tác động MT của các quy trình SX, hoạt động kinh doanh của DN là sự mở rộng kiến thức về các hệ sinh thái (Sahay, 2004), nhận ra tầm quan trọng của CBTTMT đã tăng lên trong cộng đồng DN, và KTMT chủ yếu giải quyết để cung cấp thông tin tốt hơn cho CBLQ (Shil và Iqbal, 2005).
Cũng chính nhận thức về môi trường đã dẫn đến nhu cầu trách nhiệm MT ngày càng gia tăng trong DN, tổ chức, vì vậy có nhiều công ty hiện đang công bố các vấn đề MT (Belal, 2000). BCMT, thông tin KTMT của công ty chính là công cụ giúp cho công ty CBTTMT để cung cấp bằng chứng rằng công ty có trách nhiệm với hoạt động của chính mình tác động đến MT xung quanh. TTMT là một trong những yếu tố được trình bày trong báo cáo TNXH của DN (CSR). CSR là chính sách của tổ chức xác định mối quan tâm về các vấn đề xã hội như: MT, nguồn nhân lực, cộng đồng và sản phẩm an toàn (Roberts, 1992).
Vì vậy, báo cáo các vấn đề về xã hội, MT là một phương pháp để giải thích các chính sách CSR và chịu trách nhiệm về các hành động đạo đức, xã hội và môi trường (Brammer và Pavelin, 2006). Bằng cách công bố các hoạt động MT của công ty thông qua BCMT, báo cáo KTMT, các công ty loại bỏ những nhận thức tiêu cực về công ty từ công chúng và CBLQ. Điều này đã dẫn đến số lượng các công ty tham gia báo cáo TTMT ngày càng tăng và do đó, các CBTTMT của công ty đã tăng cả về quy mô và mức độ phức tạp, đặc biệt là từ những năm 1990, việc CBTTMT của công ty đã được coi là một khía cạnh quan trọng của CBTT của DN, và CBTTMT của DN đã thu hút sự chú ý tăng trưởng. 11 đáng kể từ các nhà NC (Halil Emre Akbas1 và Seda Canikli, 2014).
Nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Canada, Đức, Nhật Bản, … tích cực tiến hành NC về thông tin KTMT cũng như các biện pháp quan trọng về bảo vệ MT đã được thực hiện. Hầu hết các NC về kỹ thuật CBTTMT của DN tập trung vào các quốc gia Anglo-Saxon (Gray và cộng sự, 1995). Các công ty Mỹ cung cấp tỷ lệ phần trăm cao nhất trong các công ty CBTTMT; và mô hình kế toán Anh-Mỹ tạo ra tỷ lệ phần trăm cao nhất trong số các công ty sử dụng các hình thức CBTTMT khác nhau (Freedman và Wasley, 1990). Hughes và cộng sự (2001) NC các hoạt động BCMT thực hiện bởi 51 công ty SX của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1992 và 1993, và thấy rằng hiệu suất công bố khác nhau giữa các công ty.
Đầu những năm 1990, Châu Âu đặc biệt thú vị khi NC thực tiễn CBTTMT vì đây là ngôi nhà của nhiều nhóm môi trường hoạt động tích cực, các loại hệ thống TTKT khác nhau và thái độ văn hóa đối với công bố xã hội cũng khác so với những nơi khác (Roberts, 1991). Mặc dù những công ty ở Pháp, Đức, Hà Lan, Thụy Điển và Thụy Sĩ phần lớn có CBTTMT nhưng mức độ CBTTMT là thấp và khác nhau đáng kể giữa các quốc gia châu Âu (Gamble và cộng sự, 1996). Moneva và Liena (2000) thấy rằng các công ty của Tây Ban Nha có tác động lớn đến MT trong giai đoạn 1992-1994, có thực hiện CBTTMT trong các BCHN của họ, có sự gia tăng cả về mặt định lượng, tài chính, cũng như số lượng các công ty tham gia báo cáo tuy nhiên BCMT của các công ty này chủ yếu mô tả. Các NC cho thấy ngày càng nhiều tổ chức quyết định báo cáo TTMT cho CBLQ và có cải thiện việc CBTT về KTMT.
Khi nghiên cứu 250 DN Fortune 500 lớn nhất đại diện cho các công ty từ Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Hàn Quốc, Thụy Sĩ, Anh và Mỹ trong từ 1998 – 2001, Nikol (2003) kết luận rằng báo cáo PTBV đã tăng đáng kể trong các quốc gia đó và BCMT được áp dụng nhiều ở lĩnh vực SX công nghiệp hơn là tài chính. Đã có những tiến bộ đáng kể trong các vấn đề CBTT về KTMT, đặc biệt ở các nước như Đức, Na Uy, Vương quốc Anh, đã quy định về vấn đề trình bày các báo cáo thông tin KTMT cho CBLQ cũng như công chúng. BCMT được các tổ chức áp dụng rộng rãi, 80% các công ty lớn nhất thế giới đưa ra các báo cáo CSR độc lập (KPMG, 2008). Các DN có mức độ gây ô nhiễm cao bị phản ứng thị trường tiêu cực hơn so với các DN gây ô nhiễm thấp hơn, và.
12 các DN có CBTTMT ở mức độ thấp hơn trong báo cáo bị phản ứng thị trường tiêu cực hơn so với các DN có CBTTMT rộng rãi hơn (Patten, 2004), các DN có xu hướng ô nhiễm cao thường CBTTMT nhiều hơn, và mặc dù các DN có sự cải thiện việc CBTTMT tuy nhiên sự thay đổi đó là không nhiều.