MỞ ĐẦU 1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Phát triển ở thế kỷ 21, doanh nghiệp (DN) cần đảm bảo sự cân bằng giữa các khía cạnh kinh tế, môi trường và xã hội. Phát triển bền vững đã trở thành xu hướng phát triển tất yếu đối với DN toàn cầu. Theo báo cáo Brundtland vào năm 1987, phát triển bền vững là sự kết hợp hài hoà, hiệu quả giữa ba mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ tương lai. Hiện nay, môi trường là vấn đề thời sự được thảo luận ở tất cả các diễn đàn trên thế giới.
Sau các thảm hoạ môi trường, các rào cản xanh (văn bản pháp lý môi trường, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường, thuế, phí môi trường) ngày càng gia tăng. Chính phủ, các tổ chức tài chính, khách hàng, nhà đầu tư, cộng đồng địa phương … ngày càng quan tâm đến trách nhiệm môi trường DN và sử dụng thông tin môi trường cho việc ra quyết định. Theo Schaltegger và Burritt (2017), kế toán môi trường (KTMT) ra đời từ áp lực của các bên liên quan và thay đổi quan hệ chi phí. KTMT đã xuất hiện vào những năm bảy mươi của thế kỷ hai mươi.
Xét ở cấp độ DN, KTMT là một bộ phận trong hệ thống kế toán, sử dụng khuôn khổ lý thuyết và phương pháp kế toán mới để ghi nhận, đo lường và công bố thông tin môi trường nhằm hỗ trợ hữu ích cho việc ra quyết định đến các bên liên quan bên trong và bên ngoài DN. Dựa vào đối tượng sử dụng thông tin môi trường, KTMT được chia thành hai bộ phận là kế toán tài chính môi trường (KTTCMT) và kế toán quản trị môi trường (KTQTMT). KTMT đã chứng tỏ là công cụ kế toán phù hợp với xu hướng phát triển bền vững vì nó giúp DN đạt được đồng thời hiệu quả môi trường và hiệu quả kinh tế. Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh KTMT mang lại nhiều lợi ích to lớn cho DN.
Chẳng hạn, hỗ trợ DN tuân thủ pháp luật môi trường, chính sách môi trường, đảm bảo vị trí chiến lược dài hạn của DN (IFAC, 2005), giảm tác động môi trường và tiết kiệm chi phí vì sử dụng hiệu quả năng lượng, nước, vật liệu (IFAC, 2005; Ferreira và cộng sự, 2010), thúc đẩy DN chuyển đổi hoạt động theo hướng bền vững (sáng kiến sản xuất sạch hơn, công nghệ xanh) vì KTMT cung cấp thông tin về chi phí, lợi ích luan an 2 và cơ hội đầy đủ hơn (Gale, 2006), giảm bớt mối quan tâm về môi trường của chính phủ (Liu và Anbumozhi, 2009), xác lập mối quan hệ tốt hơn với các bên liên quan và cải tiến trong việc ra quyết định của DN (Lee và cộng sự, 2006; Ferreira và cộng sự, 2010, Kokubu và Kitada, 2015), nâng cao hình ảnh, danh tiếng, thương hiệu DN (Zeng và cộng sự, 2010; Ferreira và cộng sự, 2010). Ngành khai khoáng có vai trò, vị trí quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam nói chung và của tỉnh Bình Định nói riêng. Ngành khai khoáng trên địa bàn tỉnh Bình Định được chia thành năm lĩnh vực kinh doanh, bao gồm: khai thác đá, khai thác cát, khai thác đất san lấp, khai thác sa khoáng titan và khai thác nước nóng thiên nhiên. Đặc điểm hoạt động của năm lĩnh vực kinh doanh này có tác động tiêu cực đến môi trường như: ô nhiễm bụi, tiếng ồn, ô nhiễm đất, nước ngầm, nước mặt, chất thải rắn, xói mòn, sụt đất và mất đa dạng sinh học.
Do đó, mặc dù phần lớn là DN quy mô nhỏ và vừa, chưa niêm yết nhưng nhu cầu thông tin môi trường của các bên liên quan đối với các DN khai khoáng tỉnh Bình Định (ngành nhạy cảm với môi trường) ngày càng gia tăng. Điều này được thể hiện rõ nét thông qua các văn bản pháp lý về môi trường từ Chính phủ, các Bộ ngành và chính quyền địa phương, chẳng hạn: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 29/2004/QH11, Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/ QH12, Luật khoáng sản số 60/2010/QH12, Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13, Nghị định số 179/2013/NĐ - CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT quy định về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, Quyết định 109/2010/QĐ- UBND về phí cơ sở hạ tầng trong khai thác khoáng sản tỉnh Bình Định, Quyết định 48/2016/QĐ-UBND về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản tỉnh Bình Định, …. Thêm vào đó, Bộ Tài chính cũng đã ban hành thông tư 155/2015/TT - BTC về hướng dẫn công bố thông tin trách nhiệm môi trường, xã hội của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Do đó, thực hiện KTMT tại các DN khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định nói riêng là tất yếu khách quan nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các bên liên quan.
Tại Việt Nam, phù hợp với thông lệ quốc tế và xu hướng phát triển bền vững toàn cầu nên vấn đề môi trường đã trở thành chủ đề nóng trong các hội nghị, hội thảo luan an 3 quốc gia. Các nghiên cứu KTMT tại Việt Nam cũng đã xuất hiện. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu KTMT được thực hiện tại các nước phát triển và nghiên cứu KTMT ở các nước đang phát triển còn hạn chế, trong đó có khu vực Đông Nam Á (Belal, 2000; Saha và Akter, 2012; Herzig và cộng sự, 2012). Do đó, KTMT vẫn còn là lĩnh vực nghiên cứu khá mới trong cả học thuật và thực hành tại Việt Nam với số lượng các công trình nghiên cứu về KTMT còn hạn chế.
Điều này làm cho việc thực hiện KTMT tại các DN ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và DN khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định cũng không phải là ngoại lệ. Với những phân tích trên, tác giả thực hiện luận án với đề tài “Kế toán môi trường tại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định”. Nghiên cứu này nhằm mô tả thực hiện KTMT cũng như đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTMT tại các DN khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định. Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy thực hiện KTMT tại các DN khai khoáng trên địa bàn tỉnh Bình Định.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu của luận án trình bày hai nội dung chính: (1) Các nghiên cứu về KTMT và (2) Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTMT. Ở mỗi nội dung trong tổng quan nghiên cứu bao gồm nghiên cứu trong nước và nghiên cứu ngoài nước. Sau đó, ở mỗi dòng nghiên cứu trong nước và nghiên cứu ngoài nước được chia thành các nghiên cứu về quy trình ghi nhận, xử lý, phân tích, cung cấp thông tin môi trường trong KTTCMT và KTQTMT. Trên cơ sở các nghiên cứu đã công bố, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu và đưa ra định hướng nghiên cứu của luận án.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG 2.1 Các nghiên cứu về kế toán môi trường trên thế giới Các nghiên cứu trên thế giới về KTMT tập trung vào hai bộ phận cấu thành, đó là: KTTCMT và KTQTMT.
Theo Mathews (2000), từ giữa những năm 90 các nghiên cứu KTMT chủ yếu tập trung vào KTTCMT hơn là KTQTMT. Nghiên cứu KTMT hầu hết được tiến hành trong bối cảnh các nước phát triển sau đó chuyển dần sang các nước công nghiệp mới nổi, các nước đang phát triển (xem Belal, 2000; luan an 4 Herzig và cộng sự, 2012). Dòng nghiên cứu KTTCMT tập trung vào ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin về tài sản môi trường (TSMT), nợ phải trả môi trường (NPTMT), chi phí môi trường (CPMT), thu nhập môi trường (TNMT) chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài. Trong khi đó, KTQTMT là quá trình ghi nhận, xử lý và phân tích thông tin môi trường nhằm hỗ trợ cho việc ra quyết định nội bộ của các nhà quản trị DN.
Nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức quốc gia, tổ chức kế toán chuyên nghiệp trên thế giới đã quan tâm đến KTMT. Trong đó, hướng dẫn của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Phát triển Bền vững – UNDSD (2001), Hội nghị của Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển - UNCTAD (2002), Liên đoàn Kế toán Quốc tế - IFAC (2005) đã trở thành kim chỉ nan thực hiện KTMT cho đến ngày hôm nay.1 Các nghiên cứu về ghi nhận thông tin kế toán môi trường trên thế giới Về ghi nhận thông tin KTTCMT, UNCTAD (2002), IFAC (2005), Bộ Môi trường Nhật Bản – JMOE (2005) đã lần lượt đưa ra các khái niệm, phân loại CPMT, TNMT, TSMT và NPTMT. Trong đó, tài liệu được UNCTAD ban hành vào năm 2002 với tựa đề “Hướng dẫn kế toán và báo cáo tài chính về chi phí và nợ phải trả môi trường” được xem là tài liệu học thuật về KTTCMT mang tính toàn diện, tổng quát được sử dụng rộng rãi. UNCTAD (2002) đã lồng ghép các chuẩn mực kế toán quốc tế để làm rõ các phương pháp đo lường thông tin KTTCMT.
Về ghi nhận thông tin KTQTMT, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ - USEPA (1995), UNDSD (2001), JMOE (2005) và IFAC (2005) đã trình bày khái niệm CPMT, TNMT, tiết kiệm môi trường và phân loại CPMT. Tuy nhiên, phân loại CPMT chưa có sự thống nhất giữa các tổ chức vì theo USEPA (1995) thì CPMT được phân thành 4 loại, theo IFAC (2005) thì CPMT được phân thành 6 loại, trong khi đó JMOE (2005) lại phân CPMT thành 7 loại. Theo Schaltegger và Buritt (2000), Burritt và cộng sự (2002) thì thông tin KTQTMT bao gồm thông tin vật lý môi trường, thông tin tiền tệ môi trường nhằm giúp DN xác định thông tin môi trường toàn diện về quy mô và mức độ tác động môi trường. Qua nghiên cứu tình huống, Qian và cộng sự (2011) chứng minh thông tin vật lý và thông tin tiền tệ môi trường cho các hoạt động trực tiếp quản lý chất thải và tái chế cao hơn so với các hoạt động gián tiếp và bên ngoài (CPMT tương lai) tại 12 chính quyền địa phương nằm ở bang New South Wales luan an 5 ở Úc.
Ngoài ra, Jamil và cộng sự (2015) đã cho thấy thực hành KTQTMT trong các DN Malaysia ở mức thấp, thiên về KTQTMT vật lý hơn là KTQTMT tiền tệ sau khi sử dụng phương pháp khảo sát qua đường bưu điện đến 32 nhà quản trị trong các DN nhỏ và vừa từ liên đoàn DN sản xuất Malaysia.