Luận án tiến sĩ về kế toán môi trường tại doanh nghiệp khai thác khoáng sản ở Bình Định

Luận án tiến sĩ nghiên cứu kế toán môi trường tại doanh nghiệp khai thác khoáng sản tỉnh Bình Định, phân tích tác động và giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Tài chính

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kinh tế

2020

259
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG

1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển kế toán môi trường

1.1.2. Bản chất kế toán môi trường

1.1.3. Chức năng kế toán môi trường

1.1.4. Vai trò kế toán môi trường

1.1.5. Nội dung kế toán môi trường

1.2. GHI NHẬN THÔNG TIN KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG

1.2.1. Ghi nhận thông tin kế toán tài chính môi trường

1.2.2. Ghi nhận thông tin kế toán quản trị môi trường

1.3. XỬ LÝ, PHÂN TÍCH THÔNG TIN KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG

1.3.1. Xử lý, phân tích thông tin kế toán tài chính môi trường

1.3.2. Xử lý, phân tích thông tin kế toán quản trị môi trường

1.4. CUNG CẤP THÔNG TIN KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG

1.4.1. Cung cấp thông tin kế toán tài chính môi trường

1.4.2. Cung cấp thông tin kế toán quản trị môi trường

1.5. Lý thuyết hợp pháp

1.6. Lý thuyết các bên liên quan

1.7. Lý thuyết thể chế

1.8. Lý thuyết bất định

1.9. Lý thuyết đại diện

1.10. KINH NGHIỆM VỀ KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

1.10.1. Kế toán môi trường tại Nhật Bản

1.10.2. Kế toán môi trường tại Hàn Quốc

1.10.3. Kế toán môi trường tại Hoa Kỳ

1.10.4. Kế toán môi trường tại Úc

1.10.5. Bài học kinh nghiệm KTMT cho Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

2.1.1. Giới thiệu về khoáng sản và ngành khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định

2.1.2. Những đặc điểm của doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định ảnh hưởng đến kế toán môi trường

2.2. THỰC TRẠNG KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

2.2.1. Mô tả mẫu nghiên cứu

2.2.2. Nghiên cứu định tính về thực hiện KTMT và các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTMT tại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định

2.2.2.1. Thực hiện KTMT tại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định qua nghiên cứu định tính
2.2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTMT tại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định qua nghiên cứu định tính

2.2.3. Nghiên cứu định lượng về thực hiện KTMT và các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTMT tại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định

2.2.3.1. Giả thuyết nghiên cứu
2.2.3.2. Mô hình nghiên cứu
2.2.3.3. Nghiên cứu định lượng về thực hiện KTMT tại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định
2.2.3.4. Nghiên cứu định lượng về nhân tố ảnh hưởng đến kế toán môi trường tại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

2.3.1. Nguyên nhân của các hạn chế thực hiện kế toán môi trường tại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định

3. CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

3.1. ĐỊNH HƯỚNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

3.2. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

3.3. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

3.3.1. Điều kiện thực hiện giải pháp

3.3.2. Hoàn thiện về ghi nhận thông tin kế toán môi trường

3.3.2.1. Hoàn thiện về ghi nhận thông tin kế toán tài chính môi trường
3.3.2.2. Hoàn thiện về ghi nhận thông tin kế toán quản trị môi trường

3.3.3. Hoàn thiện về xử lý thông tin kế toán môi trường

3.3.3.1. Hoàn thiện về xử lý thông tin kế toán tài chính môi trường
3.3.3.2. Hoàn thiện về xử lý, phân tích thông tin kế toán quản trị môi trường

3.3.4. Hoàn thiện về báo cáo, cung cấp thông tin kế toán môi trường

3.3.4.1. Hoàn thiện về cung cấp thông tin KTTCMT
3.3.4.2. Hoàn thiện báo cáo, cung cấp thông tin KTQTMT

3.4. CÁC KIẾN NGHỊ NHẰM HỖ TRỢ THỰC HIỆN KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

3.4.1. Kiến nghị đến các cơ quan quản lý nhà nước

3.4.2. Kiến nghị đến các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định

3.4.3. Kiến nghị đến các bên liên quan khác

3.5. HẠN CHẾ NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

3.5.1. Hạn chế nghiên cứu

3.5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về kế toán môi trường

Kế toán môi trường (kế toán môi trường) đã trở thành một phần quan trọng trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp, đặc biệt là trong ngành khai thác khoáng sản. Ngành này không chỉ đóng góp vào sự phát triển kinh tế mà còn gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường. Theo Schaltegger và Burritt (2017), kế toán môi trường ra đời từ áp lực của các bên liên quan và sự thay đổi trong quan hệ chi phí. Kế toán môi trường bao gồm hai bộ phận chính: kế toán tài chính môi trường (kế toán tài chính) và kế toán quản trị môi trường (kế toán quản trị). Việc áp dụng kế toán môi trường giúp doanh nghiệp không chỉ tuân thủ các quy định pháp luật mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi mà các doanh nghiệp khai thác khoáng sản tại Bình Định đang phải đối mặt với nhiều thách thức về môi trường.

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển kế toán môi trường

Kế toán môi trường đã xuất hiện từ những năm 1970, khi mà các doanh nghiệp bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của việc ghi nhận và báo cáo thông tin môi trường. Sự phát triển của kế toán môi trường gắn liền với sự gia tăng nhận thức về bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng kế toán môi trường không chỉ giúp doanh nghiệp cải thiện hình ảnh mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh. Đặc biệt, trong ngành khai thác khoáng sản, việc thực hiện kế toán môi trường giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro và chi phí liên quan đến ô nhiễm và các vấn đề môi trường khác.

II. Thực trạng kế toán môi trường tại doanh nghiệp khai thác khoáng sản tại Bình Định

Tại tỉnh Bình Định, ngành khai thác khoáng sản đang phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên, thực trạng thực hiện kế toán môi trường (thực hiện kế toán môi trường) tại các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều doanh nghiệp chưa có hệ thống ghi nhận thông tin môi trường đầy đủ và chính xác. Điều này dẫn đến việc không thể đánh giá đúng tác động môi trường của hoạt động khai thác khoáng sản. Các doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong việc phân tích chi phí môi trường và báo cáo thông tin môi trường một cách minh bạch. Hơn nữa, sự thiếu hụt về nhận thức và kiến thức về kế toán môi trường cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

2.1 Mô tả mẫu nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu được thực hiện trên các doanh nghiệp khai thác khoáng sản tại Bình Định, bao gồm các doanh nghiệp lớn và nhỏ. Qua khảo sát, các doanh nghiệp cho biết rằng họ gặp khó khăn trong việc thu thập và xử lý thông tin môi trường. Nhiều doanh nghiệp không có bộ phận chuyên trách về kế toán môi trường, dẫn đến việc thông tin môi trường không được ghi nhận đầy đủ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng ra quyết định mà còn làm giảm tính minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp. Việc thiếu hụt thông tin môi trường cũng khiến cho các bên liên quan không thể đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng của doanh nghiệp đến môi trường.

III. Giải pháp hoàn thiện kế toán môi trường tại doanh nghiệp khai thác khoáng sản

Để nâng cao hiệu quả thực hiện kế toán môi trường tại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản ở Bình Định, cần có các giải pháp cụ thể. Đầu tiên, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống ghi nhận thông tin môi trường một cách bài bản và khoa học. Việc đào tạo nhân viên về kế toán môi trường cũng rất quan trọng để nâng cao nhận thức và kỹ năng. Thứ hai, cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng các quy định và hướng dẫn cụ thể về kế toán môi trường. Cuối cùng, doanh nghiệp cần chủ động trong việc công bố thông tin môi trường để tạo dựng lòng tin với các bên liên quan và cộng đồng.

3.1 Định hướng bảo vệ môi trường và phát triển ngành khai thác khoáng sản

Định hướng bảo vệ môi trường trong ngành khai thác khoáng sản cần được đặt lên hàng đầu. Doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời phát triển bền vững. Việc áp dụng các công nghệ xanh và quy trình sản xuất sạch sẽ giúp doanh nghiệp không chỉ bảo vệ môi trường mà còn tiết kiệm chi phí. Hơn nữa, việc thực hiện kế toán môi trường sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hình ảnh và thương hiệu, từ đó thu hút được nhiều nhà đầu tư và khách hàng hơn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Phát triển ở thế kỷ 21, doanh nghiệp (DN) cần đảm bảo sự cân bằng giữa các khía cạnh kinh tế, môi trường và xã hội. Phát triển bền vững đã trở thành xu hướng phát triển tất yếu đối với DN toàn cầu. Theo báo cáo Brundtland vào năm 1987, phát triển bền vững là sự kết hợp hài hoà, hiệu quả giữa ba mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ tương lai. Hiện nay, môi trường là vấn đề thời sự được thảo luận ở tất cả các diễn đàn trên thế giới.

Sau các thảm hoạ môi trường, các rào cản xanh (văn bản pháp lý môi trường, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường, thuế, phí môi trường) ngày càng gia tăng. Chính phủ, các tổ chức tài chính, khách hàng, nhà đầu tư, cộng đồng địa phương … ngày càng quan tâm đến trách nhiệm môi trường DN và sử dụng thông tin môi trường cho việc ra quyết định. Theo Schaltegger và Burritt (2017), kế toán môi trường (KTMT) ra đời từ áp lực của các bên liên quan và thay đổi quan hệ chi phí. KTMT đã xuất hiện vào những năm bảy mươi của thế kỷ hai mươi.

Xét ở cấp độ DN, KTMT là một bộ phận trong hệ thống kế toán, sử dụng khuôn khổ lý thuyết và phương pháp kế toán mới để ghi nhận, đo lường và công bố thông tin môi trường nhằm hỗ trợ hữu ích cho việc ra quyết định đến các bên liên quan bên trong và bên ngoài DN. Dựa vào đối tượng sử dụng thông tin môi trường, KTMT được chia thành hai bộ phận là kế toán tài chính môi trường (KTTCMT) và kế toán quản trị môi trường (KTQTMT). KTMT đã chứng tỏ là công cụ kế toán phù hợp với xu hướng phát triển bền vững vì nó giúp DN đạt được đồng thời hiệu quả môi trường và hiệu quả kinh tế. Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh KTMT mang lại nhiều lợi ích to lớn cho DN.

Chẳng hạn, hỗ trợ DN tuân thủ pháp luật môi trường, chính sách môi trường, đảm bảo vị trí chiến lược dài hạn của DN (IFAC, 2005), giảm tác động môi trường và tiết kiệm chi phí vì sử dụng hiệu quả năng lượng, nước, vật liệu (IFAC, 2005; Ferreira và cộng sự, 2010), thúc đẩy DN chuyển đổi hoạt động theo hướng bền vững (sáng kiến sản xuất sạch hơn, công nghệ xanh) vì KTMT cung cấp thông tin về chi phí, lợi ích luan an 2 và cơ hội đầy đủ hơn (Gale, 2006), giảm bớt mối quan tâm về môi trường của chính phủ (Liu và Anbumozhi, 2009), xác lập mối quan hệ tốt hơn với các bên liên quan và cải tiến trong việc ra quyết định của DN (Lee và cộng sự, 2006; Ferreira và cộng sự, 2010, Kokubu và Kitada, 2015), nâng cao hình ảnh, danh tiếng, thương hiệu DN (Zeng và cộng sự, 2010; Ferreira và cộng sự, 2010). Ngành khai khoáng có vai trò, vị trí quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam nói chung và của tỉnh Bình Định nói riêng. Ngành khai khoáng trên địa bàn tỉnh Bình Định được chia thành năm lĩnh vực kinh doanh, bao gồm: khai thác đá, khai thác cát, khai thác đất san lấp, khai thác sa khoáng titan và khai thác nước nóng thiên nhiên. Đặc điểm hoạt động của năm lĩnh vực kinh doanh này có tác động tiêu cực đến môi trường như: ô nhiễm bụi, tiếng ồn, ô nhiễm đất, nước ngầm, nước mặt, chất thải rắn, xói mòn, sụt đất và mất đa dạng sinh học.

Do đó, mặc dù phần lớn là DN quy mô nhỏ và vừa, chưa niêm yết nhưng nhu cầu thông tin môi trường của các bên liên quan đối với các DN khai khoáng tỉnh Bình Định (ngành nhạy cảm với môi trường) ngày càng gia tăng. Điều này được thể hiện rõ nét thông qua các văn bản pháp lý về môi trường từ Chính phủ, các Bộ ngành và chính quyền địa phương, chẳng hạn: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 29/2004/QH11, Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/ QH12, Luật khoáng sản số 60/2010/QH12, Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13, Nghị định số 179/2013/NĐ - CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT quy định về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, Quyết định 109/2010/QĐ- UBND về phí cơ sở hạ tầng trong khai thác khoáng sản tỉnh Bình Định, Quyết định 48/2016/QĐ-UBND về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản tỉnh Bình Định, …. Thêm vào đó, Bộ Tài chính cũng đã ban hành thông tư 155/2015/TT - BTC về hướng dẫn công bố thông tin trách nhiệm môi trường, xã hội của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Do đó, thực hiện KTMT tại các DN khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định nói riêng là tất yếu khách quan nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các bên liên quan.

Tại Việt Nam, phù hợp với thông lệ quốc tế và xu hướng phát triển bền vững toàn cầu nên vấn đề môi trường đã trở thành chủ đề nóng trong các hội nghị, hội thảo luan an 3 quốc gia. Các nghiên cứu KTMT tại Việt Nam cũng đã xuất hiện. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu KTMT được thực hiện tại các nước phát triển và nghiên cứu KTMT ở các nước đang phát triển còn hạn chế, trong đó có khu vực Đông Nam Á (Belal, 2000; Saha và Akter, 2012; Herzig và cộng sự, 2012). Do đó, KTMT vẫn còn là lĩnh vực nghiên cứu khá mới trong cả học thuật và thực hành tại Việt Nam với số lượng các công trình nghiên cứu về KTMT còn hạn chế.

Điều này làm cho việc thực hiện KTMT tại các DN ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và DN khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định cũng không phải là ngoại lệ. Với những phân tích trên, tác giả thực hiện luận án với đề tài “Kế toán môi trường tại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định”. Nghiên cứu này nhằm mô tả thực hiện KTMT cũng như đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTMT tại các DN khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định. Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy thực hiện KTMT tại các DN khai khoáng trên địa bàn tỉnh Bình Định.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu của luận án trình bày hai nội dung chính: (1) Các nghiên cứu về KTMT và (2) Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTMT. Ở mỗi nội dung trong tổng quan nghiên cứu bao gồm nghiên cứu trong nước và nghiên cứu ngoài nước. Sau đó, ở mỗi dòng nghiên cứu trong nước và nghiên cứu ngoài nước được chia thành các nghiên cứu về quy trình ghi nhận, xử lý, phân tích, cung cấp thông tin môi trường trong KTTCMT và KTQTMT. Trên cơ sở các nghiên cứu đã công bố, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu và đưa ra định hướng nghiên cứu của luận án.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG 2.1 Các nghiên cứu về kế toán môi trường trên thế giới Các nghiên cứu trên thế giới về KTMT tập trung vào hai bộ phận cấu thành, đó là: KTTCMT và KTQTMT.

Theo Mathews (2000), từ giữa những năm 90 các nghiên cứu KTMT chủ yếu tập trung vào KTTCMT hơn là KTQTMT. Nghiên cứu KTMT hầu hết được tiến hành trong bối cảnh các nước phát triển sau đó chuyển dần sang các nước công nghiệp mới nổi, các nước đang phát triển (xem Belal, 2000; luan an 4 Herzig và cộng sự, 2012). Dòng nghiên cứu KTTCMT tập trung vào ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin về tài sản môi trường (TSMT), nợ phải trả môi trường (NPTMT), chi phí môi trường (CPMT), thu nhập môi trường (TNMT) chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài. Trong khi đó, KTQTMT là quá trình ghi nhận, xử lý và phân tích thông tin môi trường nhằm hỗ trợ cho việc ra quyết định nội bộ của các nhà quản trị DN.

Nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức quốc gia, tổ chức kế toán chuyên nghiệp trên thế giới đã quan tâm đến KTMT. Trong đó, hướng dẫn của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Phát triển Bền vững – UNDSD (2001), Hội nghị của Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển - UNCTAD (2002), Liên đoàn Kế toán Quốc tế - IFAC (2005) đã trở thành kim chỉ nan thực hiện KTMT cho đến ngày hôm nay.1 Các nghiên cứu về ghi nhận thông tin kế toán môi trường trên thế giới Về ghi nhận thông tin KTTCMT, UNCTAD (2002), IFAC (2005), Bộ Môi trường Nhật Bản – JMOE (2005) đã lần lượt đưa ra các khái niệm, phân loại CPMT, TNMT, TSMT và NPTMT. Trong đó, tài liệu được UNCTAD ban hành vào năm 2002 với tựa đề “Hướng dẫn kế toán và báo cáo tài chính về chi phí và nợ phải trả môi trường” được xem là tài liệu học thuật về KTTCMT mang tính toàn diện, tổng quát được sử dụng rộng rãi. UNCTAD (2002) đã lồng ghép các chuẩn mực kế toán quốc tế để làm rõ các phương pháp đo lường thông tin KTTCMT.

Về ghi nhận thông tin KTQTMT, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ - USEPA (1995), UNDSD (2001), JMOE (2005) và IFAC (2005) đã trình bày khái niệm CPMT, TNMT, tiết kiệm môi trường và phân loại CPMT. Tuy nhiên, phân loại CPMT chưa có sự thống nhất giữa các tổ chức vì theo USEPA (1995) thì CPMT được phân thành 4 loại, theo IFAC (2005) thì CPMT được phân thành 6 loại, trong khi đó JMOE (2005) lại phân CPMT thành 7 loại. Theo Schaltegger và Buritt (2000), Burritt và cộng sự (2002) thì thông tin KTQTMT bao gồm thông tin vật lý môi trường, thông tin tiền tệ môi trường nhằm giúp DN xác định thông tin môi trường toàn diện về quy mô và mức độ tác động môi trường. Qua nghiên cứu tình huống, Qian và cộng sự (2011) chứng minh thông tin vật lý và thông tin tiền tệ môi trường cho các hoạt động trực tiếp quản lý chất thải và tái chế cao hơn so với các hoạt động gián tiếp và bên ngoài (CPMT tương lai) tại 12 chính quyền địa phương nằm ở bang New South Wales luan an 5 ở Úc.

Ngoài ra, Jamil và cộng sự (2015) đã cho thấy thực hành KTQTMT trong các DN Malaysia ở mức thấp, thiên về KTQTMT vật lý hơn là KTQTMT tiền tệ sau khi sử dụng phương pháp khảo sát qua đường bưu điện đến 32 nhà quản trị trong các DN nhỏ và vừa từ liên đoàn DN sản xuất Malaysia.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về kế toán môi trường tại doanh nghiệp khai thác khoáng sản ở Bình Định, do Nguyễn Thị Kim Tuyến thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Phú Giang và TS. Lê Thị Diệu Linh tại Học viện Tài chính, tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển các phương pháp kế toán môi trường trong bối cảnh doanh nghiệp khai thác khoáng sản. Bài luận án này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng kế toán môi trường mà còn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trong ngành khai thác khoáng sản.

Để mở rộng thêm kiến thức về kế toán và kiểm toán trong các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn thạc sĩ về cải thiện công tác kế toán tại Sở Xây dựng Đà Nẵng, nơi nghiên cứu về cải tiến quy trình kế toán trong các đơn vị sự nghiệp, hay Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán môi trường và tác động đến kết quả hoạt động doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến kế toán môi trường trong doanh nghiệp. Cuối cùng, Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS tại Việt Nam cũng là một tài liệu hữu ích, cung cấp cái nhìn tổng quan về việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế trong bối cảnh Việt Nam.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn đa chiều hơn về kế toán môi trường và các vấn đề liên quan trong lĩnh vực kế toán.