Luận án các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán môi trường và tác động của nó đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành dệt may ở việt nam

Tài liệu nghiên cứu Luận án các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán môi trường và tác động của nó đến kết quả hoạt động của, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2014

303
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ TIẾNG ANH

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NC

1.1. Tổng quan các NC trên thế giới

1.2. Các NC có liên quan đến KTMT

1.3. Các NC liên quan đến công bố thông tin KTMT trong DN

1.4. Các NC liên quan đến tổ chức KTQTMT trong DN

1.5. Các NC liên quan đến NTTĐ đến KTMT

1.6. Các NC liên quan đến các NTTĐ đến vấn đề công bố thông tin KTMT18

1.7. Các NC liên quan đến các NTTĐ đến việc thực hiện KTTQMT

1.8. Các NC liên quan đến MQH giữa KTMT với KQHĐ của DN

1.9. Các NC liên quan đến MQH giữa công bố thông tin KTMT với lợi ích, hiệu quả tài chính, MT của DN

1.10. Các NC liên quan đến lợi ích của KTQTMT

1.11. Tổng quan các NC trong nước

1.12. Các NC liên quan đến KTMT

1.13. Các NC liên quan đến các NTTĐ đến KTMT

1.14. Các NC liên quan đến MQH giữa tổ chức KT với KQHĐ của DN

1.15. Khoảng trống NC và xác định vấn đề NC

1.16. Khoảng trống NC

1.17. Xác định vấn đề NC

1.18. Tóm tắt chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Tổng quan về KTMT

2.2. 1Môi Trường

2.3. 2Báo cáo môi trường

2.4. 3KTMT và phân loại KTMT

2.5. Nội dung về KTMT

2.6. Tài sản môi trường

2.7. Nợ phải trả môi trường

2.8. Thu nhập môi trường

2.9. Chi phí môi trường

2.10. Kế toán dòng vật liệu

2.11. Dự toán môi trường

2.12. Công bố thông tin (CBTT)

2.13. Chính sách chung về môi trường

2.14. Các thông tin kế toán có liên quan đến môi trường

2.15. Thực hiện KTMT

2.16. Về mặt nội dung

2.17. Về mặt hình thức tổ chức

2.18. Đối với tổ chức bộ máy kế toán

2.19. Tổ chức công tác KT

2.20. MQH giữa KTMT và KQHĐ của DN

2.21. KQHĐ của DN

2.22. MQH giữa KTMT và KQHĐ của DN:

2.23. Các lý thuyết nền

2.24. Lý thuyết ngẫu nhiên

2.25. Nội dung lý thuyết

2.26. Vận dụng lý thuyết ngẫu nhiên vào các NC trước có liên quan:

2.27. Áp dụng lý thuyết ngẫu nhiên vào NC này

2.28. Lý thuyết thể chế

2.29. Nội dung lý thuyết

2.30. Vận dụng lý thuyết thể chế vào các NC trước có liên quan:

2.31. Áp dụng lý thuyết thể chế vào NC này

2.32. Nội dung lý thuyết

2.33. Vận dụng lý thuyết hợp pháp vào NC trước có liên quan:

2.34. Áp dụng lý thuyết hợp pháp vào NC này

2.35. Lý thuyết các bên liên quan

2.36. Nội dung lý thuyết

2.37. Vận dụng lý thuyết CBLQ vào các NC trước có liên quan

2.38. Áp dụng lý thuyết CBLQ vào NC này

2.39. Lý thuyết phân tích lợi ích – chi phí

2.40. Nội dung lý thuyết

2.41. Vận dụng lý thuyết phân tích lợi ích – chi phí vào NC trước có liên quan:

2.42. Áp dụng lý thuyết phân tích lợi ích – chi phí vào NC này

2.43. Các NTTĐ đến KTMT

2.44. Phát triển giả thuyết NC đề xuất

2.45. Các NTTĐ đến KTMT

2.46. Qui mô DN

2.47. Các bên liên quan

2.48. Nguồn lực tài chính

2.49. Trình độ của nhân viên

2.50. Các qui định

2.51. KTMT tác động đến KQHĐ của DNNDM tại VN

2.52. Mô hình NC đề xuất

2.53. Tóm tắt chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2. PP thu thập dữ liệu sơ cấp

3.3. Phỏng vấn / Thảo luận tay đôi

3.4. PP thu thập dữ liệu thứ cấp

3.5. Khung nghiên cứu

3.6. Qui trình NC hỗn hợp

3.7. Qui trình NC

3.8. PPNC định tính

3.9. Lựa chọn và vận dụng PPNC định tính

3.10. Thảo luận, thu thập ý kiến chuyên gia

3.11. Số lượng chuyên gia:

3.12. Tiêu chí lựa chọn chuyên gia

3.13. Dàn ý thảo luận, thu thập ý kiến chuyên gia

3.14. Tiến hành thảo luận, thu thập ý kiến chuyên gia

3.15. Phương pháp NC định lượng

3.16. Bảng câu hỏi khảo sát

3.17. Tiến hành khảo sát thu thập dữ liệu

3.18. Đo lường và tính toán dữ liệu

3.19. Tóm tắt chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

4.1. Tổng quan ngành dệt may VN

4.2. Kết quả NC định tính

4.3. Kết quả thảo luận chuyên gia

4.4. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu chính thức

4.5. Nhân tố và thang do chính thức

4.6. Kết quả NC định lượng

4.7. Thực trạng KTMT trong các DNDMTVN

4.8. Thống kê mô tả

4.9. Kiểm định thang đo NC

4.10. Kiểm định thang đo các NTTĐ

4.11. Kiểm định độ tin cậy (Cronbach’s Alpha)

4.12. Phân tích EFA đối với thang đo về các NTTĐ

4.13. Phân tích CFA đối với thang đo về các NTTĐ

4.14. Kiểm định thang đo KTMT

4.15. Kiểm định độ tin cậy (Cronbach’s Alpha) thang đo KTMT (ORGA)

4.16. Phân tích EFA đối với thang đo KTMT

4.17. Phân tích CFA đối với thang đo KTMT

4.18. Kiểm định thang đo KQHĐ của DN (BENE)

4.19. Kiểm định độ tin cậy (Cronbach’s Alpha) thang đo KQHĐ của DN

4.20. Phân tích EFA đối với thang đo KQHĐ của DN

4.21. Phân tích CFA đối với thang đo KQHĐ của DN

4.22. Kiểm định mô hình, các giả thuyết NC thông qua mô hình SEM

4.23. Kiểm định mô hình lý thuyết

4.24. Kiểm định các giả thuyết của mô hình

4.25. Kiểm định ước lượng mô hình lý thuyết bằng PP Bootstrap

4.26. Kết quả kiểm định các giả thuyết của mô hình. Độ tin cậy của thang do:

4.27. Các nhân tố ảnh hưởng đến KTMT và tác động của nó đến KQHĐ của các DNNDM tại VN

4.28. Tóm tắt chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ HÀM Ý

5.1. Một số hàm ý rút ra từ NC

5.2. Đóng góp khoa học của luận án

5.3. Hạn chế và hướng NC tiếp theo

5.4. Những hạn chế của luận án

5.5. Hướng NC tiếp theo

5.6. Tóm tắt chương 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

DANH SÁCH CÁC CHUYÊN GIA THAM GIA THẢO LUẬN

PHỤ LỤC 3. PHIẾU THU THẬP Ý KIẾN CHUYÊN GIA

PHỤ LỤC 3.3 BẢNG KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 3.4 DANH SÁCH CÔNG TY THAM GIA KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 4.1 BẢNG TỔNG HỢP Ý KIẾN CHUYÊN GIA

PHỤ LỤC 4.2: KẾ QUẢ THỐNG KÊ MÔ TẢ

PHỤ LỤC 4.3 KIỂM ĐỊNH ĐỘ TIN CẬY CRONBACH’S ALPHA

PHỤ LỤC 4.4 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH EFA

PHỤ LỤC 4.5 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CFA

Tóm tắt

I. Giới thiệu về kế toán môi trường

Kế toán môi trường (KTMT) là một lĩnh vực ngày càng được quan tâm trong bối cảnh phát triển bền vững. Nó không chỉ giúp các doanh nghiệp (doanh nghiệp dệt may) quản lý chi phí môi trường mà còn tạo ra giá trị cho các bên liên quan. Theo nghiên cứu, KTMT có thể giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro môi trường và cải thiện hiệu suất kinh tế. Việc áp dụng KTMT trong ngành dệt may tại Việt Nam đang trở thành một yêu cầu cấp thiết, đặc biệt khi ngành này có tác động lớn đến môi trường. Các doanh nghiệp cần phải thực hiện báo cáo môi trường (báo cáo môi trường) để minh bạch hóa thông tin và nâng cao trách nhiệm xã hội. Điều này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.

1.1. Tác động của môi trường đến doanh nghiệp

Môi trường có tác động sâu sắc đến hoạt động của các doanh nghiệp dệt may. Các yếu tố như ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng đến quy trình sản xuất mà còn đến hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải nhận thức rõ về các rủi ro môi trường và thực hiện các biện pháp quản lý môi trường (quản lý môi trường) hiệu quả. Việc này không chỉ giúp giảm thiểu chi phí mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Theo một nghiên cứu, các doanh nghiệp có chính sách bảo vệ môi trường rõ ràng thường có hiệu suất tài chính tốt hơn. Điều này cho thấy rằng việc đầu tư vào KTMT không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội để phát triển bền vững.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán môi trường

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện KTMT trong các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam. Đầu tiên, quy mô doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng. Các doanh nghiệp lớn thường có nguồn lực tài chính và nhân lực tốt hơn để thực hiện KTMT. Thứ hai, nhận thức của lãnh đạo về môi trường và KTMT cũng đóng vai trò quyết định. Nếu lãnh đạo không coi trọng vấn đề môi trường, việc thực hiện KTMT sẽ gặp nhiều khó khăn. Thứ ba, các quy định pháp lý và chính sách môi trường cũng ảnh hưởng đến việc áp dụng KTMT. Doanh nghiệp cần phải tuân thủ các quy định này để tránh rủi ro pháp lý và bảo vệ môi trường. Cuối cùng, sự tham gia của các bên liên quan cũng rất quan trọng. Các bên liên quan như nhà đầu tư, khách hàng và cộng đồng đều có thể tác động đến quyết định của doanh nghiệp trong việc thực hiện KTMT.

2.1. Quy mô doanh nghiệp

Quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng lớn đến khả năng thực hiện KTMT. Doanh nghiệp lớn thường có nhiều nguồn lực hơn để đầu tư vào công nghệ và quy trình sản xuất thân thiện với môi trường. Họ cũng có khả năng thu hút nhân tài và chuyên gia trong lĩnh vực môi trường, từ đó nâng cao hiệu quả của KTMT. Ngược lại, các doanh nghiệp nhỏ thường gặp khó khăn trong việc triển khai KTMT do hạn chế về tài chính và nhân lực. Điều này dẫn đến việc họ không thể thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường một cách hiệu quả, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và uy tín của họ trên thị trường.

III. Tác động của kế toán môi trường đến doanh nghiệp dệt may

KTMT có tác động mạnh mẽ đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam. Việc thực hiện KTMT không chỉ giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí mà còn nâng cao hiệu quả sản xuất. Các doanh nghiệp áp dụng KTMT thường có khả năng quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên và giảm thiểu chất thải. Điều này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Hơn nữa, việc công bố thông tin môi trường một cách minh bạch cũng giúp doanh nghiệp xây dựng lòng tin với khách hàng và các bên liên quan. Theo một nghiên cứu, các doanh nghiệp có báo cáo môi trường tốt thường có hiệu suất tài chính cao hơn và được thị trường đánh giá cao hơn.

3.1. Hiệu quả kinh tế

KTMT không chỉ là một công cụ quản lý mà còn là một chiến lược kinh doanh. Các doanh nghiệp dệt may áp dụng KTMT có thể tối ưu hóa quy trình sản xuất, từ đó giảm thiểu chi phí và tăng lợi nhuận. Việc giảm thiểu chất thải và sử dụng hiệu quả tài nguyên cũng giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí. Hơn nữa, các doanh nghiệp này thường được hưởng lợi từ các chính sách ưu đãi của nhà nước về bảo vệ môi trường. Điều này tạo ra một vòng lặp tích cực, nơi mà việc thực hiện KTMT không chỉ mang lại lợi ích cho môi trường mà còn cho chính doanh nghiệp.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NC Trong chương này, tác giả chủ yếu trình bày các NC có liên quan đến đề tài của tác giả theo dòng NC cụ thể. Điều này giúp cho tác giả tìm ra khoảng trống để định hướng cho NC của mình. Đối với các NC về các NTTĐ đến KTMT tác giả chỉ khảo lược qua các NC trước chưa phân loại theo từng NTTĐ nhưng cũng từ đây tác giả tìm ra các nhân tố có nhiều khả năng sẽ tác động đến KTMT sẽ trình bày ở chương 2. Tổng quan các NC trên thế giới Môi trường là một phần không thể tách rời trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống con người (Md.

Hafij Ullah và cộng sự, 2014). Các hoạt động của tổ chức, DN, con người đều có liên hệ một cách trực tiếp hay gián tiếp đến MT xung quanh. Từ những năm 1970 xã hội bắt đầu quan tâm về TĐMT do hoạt động của các DN, và KTMT cũng xuất hiện trong giai đoạn này do sự gia tăng nhận thức về MT cũng như mối quan tâm về phúc lợi xã hội và MT (Hecht, 2000). Song song đó, KTMT ngày càng được quan tâm bởi các nhà điều hành DN và những người ủng hộ MT như là một sự bổ sung cần thiết để cải thiện MT, ra quyết định trong khu vực tư nhân (James Boyd,1998), đánh giá các lợi ích của KTMT và đề ra các giá trị, các yếu tố quyết định đến việc thay đổi, nâng cao chất lượng TTKT, xác định các cải thiện về KTMT sẽ mang lại nhiều lợi ích về tài chính và môi trường.

KTMT gồm có 03 lĩnh vực cụ thể là: KTMT trong bối cảnh quốc gia đề cập đến kế toán nguồn TNTN, có thể dẫn đến số liệu thống kê về một quốc gia hoặc khu vực mức độ, chất lượng, và giá trị của nguồn TNTN, cả tái tạo cũng như không tái tạo. KTMT trong bối cảnh KTTC thường đề cập đến việc chuẩn bị BCTC cho bên ngoài bằng cách sử dụng nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận. KTMT như một khía cạnh của KTQT phục vụ nhà quản trị đề ra các quyết định đầu tư về chi phí, thiết kế SX sản phẩm, đánh giá hiệu quả, và cả một loạt các những quyết định kinh doanh tương lai (USEPA, 1995). Đến nay có nhiều NC về KTMT trên thế giới, tác giả đã tìm hiểu và thống kê theo các chủ đề NC như sau: 9 - Các NC có liên quan đến KTMT: Những NC này cho thấy các DN có CBTTMT, KTMT hay không và mức độ công bố, hay có KTQTMT hay không, mức độ thực hiện KTQTMT.

- Các NC liên quan đến NTTĐ đến KTMT: Dòng NC về nguyên nhân, các NTTĐ đến công bố thông tin môi trường (CBTTMT), KTQTMT - Các NC liên quan đến MQH giữa KTMT với KQHĐ của DN bao gồm: (1) Các NC liên quan đến MQH giữa CBTT về KTMT với lợi ích, hiệu quả tài chính, MT của DN. (2) Những NC về việc tổ chức KTQTMT sẽ cũng cấp nhiều thông tin hữu ít qua đó khuyến khích việc tổ chức KTQTMT để đạt được nhiều lợi ích trong kinh doanh. Các NC có liên quan đến KTMT 1. Các NC liên quan đến công bố thông tin KTMT trong DN Sự phát triển kinh tế, SX công nghiệp thế giới đã gây ra những tác động tiêu cực cho MT, trong đó, các DN được xem là nguyên nhân chính của các vấn về MT và phải đối mặt áp lực rất lớn từ chính phủ, nhà đầu tư, các tổ chức tài chính, xã hội,….

Trong bối cảnh phát triển KT-XH một cách bền vững, để giảm những áp lực này, bên cạnh việc tối đa hóa giá trị cho cổ đông các DN đã tìm cách giảm tác động tiêu cực đến MT, tự nguyện báo cáo các hoạt động hoạt động MT của họ (Halil Emre Akbas1 và Seda Canikli, 2014). Thông tin KTMT được cung cấp trong BCHN hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác (Gray và cộng sự. Báo cáo kinh doanh thông qua việc tự nguyện báo cáo thêm thông tin phù hợp với sự quan tâm của nhà đầu tư, các cổ đông được qui định bởi FASB (2001), và UNCTAD (1998, 2002) đã đưa ra các hướng dẫn cụ thể cho việc ghi nhận các CPMT, NPTMT cũng như CBTT trên báo cáo môi trường (BCMT). Việc sử dụng KTMT ngày càng gia tăng, các DN lớn công bố ngày càng thêm nhiều TTMT trong các BCHN nhằm tạo ý thức về MT (Shil và Iqbal, 2005), và sự quan tâm đối với MT không bị cô lập trong một khu vực hay trong một văn hóa cụ thể, mà nó đã thu hút sự chú ý toàn cầu (Gamble và cộng sự, 1996).

Tuy nhiên, không có NC về BCMT trong các BCHN của DN trước những năm 1970, mặc dù có nhiều NC về thực hiện KTMT của các tập đoàn khác nhau (Shil và Iqbal, 2005). Từ những năm 1970, việc CBTTMT đã 10 bắt đầu trong các BCHN của các tổ chức khác nhau (Kokubu và cộng sự, 2002). Việc CBTT về KTMT sẽ giúp cho người sử dụng có nhiều thông tin hơn khi ra quyết định, và nhu cầu đối với TTMT, KTMT trong các BCHN là rất lớn (Afzal Ahmad, 2012). Phần lớn người sử dụng thông tin cho rằng TTMT là trọng yếu cho quyết định của họ và họ tìm kiếm thông tin này trong BCTC, báo cáo thường niên (BCTN) của công ty (Rankin, Michaela, 1997), và TTMT được mong muốn hơn bất kỳ thông tin xã hội nào khác (Hughes và cộng sự, 2001).

Mặc dù người dùng thường tin rằng TTMT là trọng yếu, nhưng phần lớn nhóm người dùng xếp hạng TTMT sau thông tin tài chính truyền thống như lợi nhuận, tài sản ròng, luồng tiền và thanh toán cổ tức (Rankin và Michaela, 1997). Một trong những lý do làm gia tăng mối quan tâm về tác động MT của các quy trình SX, hoạt động kinh doanh của DN là sự mở rộng kiến thức về các hệ sinh thái (Sahay, 2004), nhận ra tầm quan trọng của CBTTMT đã tăng lên trong cộng đồng DN, và KTMT chủ yếu giải quyết để cung cấp thông tin tốt hơn cho CBLQ (Shil và Iqbal, 2005). Cũng chính nhận thức về môi trường đã dẫn đến nhu cầu trách nhiệm MT ngày càng gia tăng trong DN, tổ chức, vì vậy có nhiều công ty hiện đang công bố các vấn đề MT (Belal, 2000). BCMT, thông tin KTMT của công ty chính là công cụ giúp cho công ty CBTTMT để cung cấp bằng chứng rằng công ty có trách nhiệm với hoạt động của chính mình tác động đến MT xung quanh.

TTMT là một trong những yếu tố được trình bày trong báo cáo TNXH của DN (CSR). CSR là chính sách của tổ chức xác định mối quan tâm về các vấn đề xã hội như: MT, nguồn nhân lực, cộng đồng và sản phẩm an toàn (Roberts, 1992). Vì vậy, báo cáo các vấn đề về xã hội, MT là một phương pháp để giải thích các chính sách CSR và chịu trách nhiệm về các hành động đạo đức, xã hội và môi trường (Brammer và Pavelin, 2006). Bằng cách công bố các hoạt động MT của công ty thông qua BCMT, báo cáo KTMT, các công ty loại bỏ những nhận thức tiêu cực về công ty từ công chúng và CBLQ.

Điều này đã dẫn đến số lượng các công ty tham gia báo cáo TTMT ngày càng tăng và do đó, các CBTTMT của công ty đã tăng cả về quy mô và mức độ phức tạp, đặc biệt là từ những năm 1990, việc CBTTMT của công ty đã được coi là một khía cạnh quan trọng của CBTT của DN, và CBTTMT của DN đã thu hút sự chú ý tăng trưởng 11 đáng kể từ các nhà NC (Halil Emre Akbas1 và Seda Canikli, 2014). Nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Canada, Đức, Nhật Bản, … tích cực tiến hành NC về thông tin KTMT cũng như các biện pháp quan trọng về bảo vệ MT đã được thực hiện. Hầu hết các NC về kỹ thuật CBTTMT của DN tập trung vào các quốc gia Anglo-Saxon (Gray và cộng sự, 1995). Các công ty Mỹ cung cấp tỷ lệ phần trăm cao nhất trong các công ty CBTTMT; và mô hình kế toán Anh-Mỹ tạo ra tỷ lệ phần trăm cao nhất trong số các công ty sử dụng các hình thức CBTTMT khác nhau (Freedman và Wasley, 1990).

Hughes và cộng sự (2001) NC các hoạt động BCMT thực hiện bởi 51 công ty SX của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1992 và 1993, và thấy rằng hiệu suất công bố khác nhau giữa các công ty. Đầu những năm 1990, Châu Âu đặc biệt thú vị khi NC thực tiễn CBTTMT vì đây là ngôi nhà của nhiều nhóm môi trường hoạt động tích cực, các loại hệ thống TTKT khác nhau và thái độ văn hóa đối với công bố xã hội cũng khác so với những nơi khác (Roberts, 1991). Mặc dù những công ty ở Pháp, Đức, Hà Lan, Thụy Điển và Thụy Sĩ phần lớn có CBTTMT nhưng mức độ CBTTMT là thấp và khác nhau đáng kể giữa các quốc gia châu Âu (Gamble và cộng sự, 1996). Moneva và Liena (2000) thấy rằng các công ty của Tây Ban Nha có tác động lớn đến MT trong giai đoạn 1992-1994, có thực hiện CBTTMT trong các BCHN của họ, có sự gia tăng cả về mặt định lượng, tài chính, cũng như số lượng các công ty tham gia báo cáo tuy nhiên BCMT của các công ty này chủ yếu mô tả.

Các NC cho thấy ngày càng nhiều tổ chức quyết định báo cáo TTMT cho CBLQ và có cải thiện việc CBTT về KTMT. Khi nghiên cứu 250 DN Fortune 500 lớn nhất đại diện cho các công ty từ Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Hàn Quốc, Thụy Sĩ, Anh và Mỹ trong từ 1998 – 2001, Nikol (2003) kết luận rằng báo cáo PTBV đã tăng đáng kể trong các quốc gia đó và BCMT được áp dụng nhiều ở lĩnh vực SX công nghiệp hơn là tài chính. Đã có những tiến bộ đáng kể trong các vấn đề CBTT về KTMT, đặc biệt ở các nước như Đức, Na Uy, Vương quốc Anh, đã quy định về vấn đề trình bày các báo cáo thông tin KTMT cho CBLQ cũng như công chúng. BCMT được các tổ chức áp dụng rộng rãi, 80% các công ty lớn nhất thế giới đưa ra các báo cáo CSR độc lập (KPMG, 2008).

Các DN có mức độ gây ô nhiễm cao bị phản ứng thị trường tiêu cực hơn so với các DN gây ô nhiễm thấp hơn, và 12 các DN có CBTTMT ở mức độ thấp hơn trong báo cáo bị phản ứng thị trường tiêu cực hơn so với các DN có CBTTMT rộng rãi hơn (Patten, 2004), các DN có xu hướng ô nhiễm cao thường CBTTMT nhiều hơn, và mặc dù các DN có sự cải thiện việc CBTTMT tuy nhiên sự thay đổi đó là không nhiều.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán môi trường và tác động đến kết quả hoạt động doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thành Tài, nghiên cứu các yếu tố tác động đến kế toán môi trường trong ngành dệt may tại Việt Nam. Bài viết chỉ ra rằng việc áp dụng kế toán môi trường không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Đặc biệt, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa kế toán môi trường và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, từ đó giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định chiến lược phù hợp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến kế toán và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau:

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến kế toán và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.