ĐẶT VẤN ĐỀ. Tính cấp thiết của đề tài. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu:. 13 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Các vấn đề về Khu công nghiệp. Các khái niệm về KCN. Bản chất của xây dựng KCN. Nguyên tắc và vai trò của xây dựng KCN.
Tình hình xây dựng các KCN trên thế giới và Việt Nam. Những tác động của việc xây dựng các KCN. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và Việt Nam về giải quyết việc làm cho người dân khi bị thu hồi đất. Một số văn bản pháp luật quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Tình hình xây dựng các KCN của tỉnh Vĩnh Phúc và giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất. 40 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Thời gian và địa điểm.
Nội dung nghiên cứu. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu. Thực trạng của việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất. Điều tra việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng Khu công nghiệp Bình Xuyên, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Nghiên cứu tác động của việc thu hồi đất xây dựng Khu công nghiệp Bình Xuyên, huyện Bình Xuyên đến đời sống của người dân. Nghiên cứu tác động của việc thu hồi đất xây dựng Khu công nghiệp Bình Xuyên đến việc làm của người dân. Đề xuất một số giải pháp tháo gỡ các khó khăn vướng mắc của các chính sách sau thu hồi đất. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp điều tra. Phương pháp chuyên gia. Phương pháp thống kê phân tích, xử lý số liệu. 43 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội. Vị trí địa lý. Đặc điểm địa hình. Đặc điểm địa chất khoáng sản.
Đặc điểm khí hậu. Tài nguyên đất. Đặc điểm kinh tế xã hội. Khái quát về dự án KCN Bình Xuyên.
Những căn cứ pháp lý liên quan đến dự án. Khái quát chung về KCN Bình Xuyên:. Công tác bồi thường, hỗ trợ của dự án:. Đánh giá chung.
Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế người dân. Quỹ đất nông nghiệp của 03 nhóm hộ trước và sau thu hồi đất. Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ. Tác động đến tài sản sở hữu của hộ.
Tác động đến tình hình ổn định cuộc sống của hộ gia đình. Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến việc làm của người dân. Sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề của các hộ sau khi thu hồi đất. Đề xuất một số giải pháp.
Nhóm giải pháp trước mắt. Nhóm giải pháp lâu dài. 76 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng thì trong thời kỳ hiện nay đất đai có thêm những chức năng có ý nghĩa quan trọng là chức năng tạo nguồn vốn và thu hút đầu tư phát triển. Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để đưa đất đai thực sự trở thành nguồn vốn, nguồn thu hút cho các đầu tư phát triển thì việc thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất để xây dựng các khu, cụm công nghiệp, khu đô thị tập trung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phát triển kinh tế là con đường hết sức cần thiết và duy nhất. Hiện nay cả nước có khoảng trên 254 KCN được thành lập chiếm tổng diện tích đất tự nhiên gần 69 nghìn ha, trong đó có 171 KCN đã đi vào hoạt động. Các Khu công nghiệp thu hút trên 1,5 triệu lao động trực tiếp, nộp ngân sách năm 2010 khoảng 1,4 tỉ USD, đóng góp rất lớn vào sự phát triển chung của đất nước[29].
Tỉnh Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, cách Hà Nội hơn 50 km nằm trong vùng lan tỏa của tam giác kinh tế Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh với các điều kiện thuận lợi trong giao thông, từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến nay đã trở thành một tỉnh có tốc độ CNH, HĐH đứng đầu cả nước, hàng năm chuyển mục đích hàng trăm ha đất nông nghiệp sang các mục đích khác đã ảnh hưởng lớn đến đời sống, việc làm của một bộ phận lớn dân cư sau khi thu hồi đất đây là một vấn đề bức xúc của cả nước và của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng cần phải giải quyết. Nhằm tìm hiểu các tác động của việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất và đề xuất các 12 giải pháp hợp lý cho khu vực và có thể nhân rộng áp dụng rộng rãi trên cả nước là mục tiêu của đề tài nghiên cứu “Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất xây dựng Khu công nghiệp Bình Xuyên, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đến sinh kế người dân”. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu: * Mục đích nghiên cứu - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng khu công nghiệp Bình Xuyên - huyện Bình Xuyên. - Đánh giá được các tác động của việc thu hồi đất đến người dân bị thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp Bình Xuyên.
- Phân tích những tồn tại và nguyên nhân của việc thu hồi đất xây dựng Khu công nghiệp Bình Xuyên từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp và chính sách hỗ trợ mới và hợp lý cho địa bàn nghiên cứu. * Yêu cầu nghiên cứu - Phản ánh được chính xác các tác động của việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp đến đời sống, việc làm và môi trường của người dân ở địa bàn nghiên cứu; - Đánh giá một cách khách quan và đưa ra được các biện pháp hợp lý được người dân đồng tình trên cơ sở đầy đủ khoa học và thực tiễn. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các vấn đề về Khu công nghiệp 1.
Các khái niệm về KCN Đối với khái niệm về KCN, ngay từ khi loại hình này ra đời cho đến nay vẫn đang có những tranh cãi có tính học thuật về KCN, KCX. Có quan niệm cho rằng KCN là một vùng đất được phân chia theo hệ thống nhằm cung cấp mặt bằng cho các ngành công nghiệp. Một số các nhà nghiên cứu khác có quan niệm rộng hơn coi KCN như một khu đô thị công nghiệp hay thành phố công nghiệp, ngoài việc cung cấp cơ sở hạ tầng, tiện ích công cộng, KCN còn bao gồm khu thương mại, dịch vụ hành chính, trường học, bệnh viện, các khu vui chơi giải trí, nhà ở cho người lao động,… nằm ngoài hàng rào KCN, KCX. Hiện nay có một số khái niệm về KCN như sau: 1.
KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở. Về thực chất mô hình này là khu hành chính kinh tế đặc biệt như KCN Bata (Indonesia) các công viên công cộng ở khu vực lãnh thổ Đài Loan và một số nước Tây Âu [13]. KCN là khu vực lãnh thổ hữu hạn ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và DV sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống. Mô hình này được xây dựng ở một số nước như Malaysia, Indonesia, Thái Lan., khu vực lãnh thổ Đài Loan [13].
Theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về KCN, khu chế xuất và khu kinh tế: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất 14 công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này” [9]. Như vậy, xét về bản chất các định nghĩa không có sự khác biệt lớn, tuy nhiên do yêu cầu của từng thời kỳ của phát triển kinh tế cũng như các quan điểm khác nhau trong định hướng vĩ mô thì cũng các định nghĩa này cũng có những điểm khác nhau. Bản chất của xây dựng KCN Bản chất của xây dựng KCN là quá trình phát triển các nhà máy xí nghiệp một cách có quy hoạch tổng thể trên phương diện toàn quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định nhằm tương trợ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh công nghiệp cũng như xử lý chất thải. Mặt khác việc xây dựng các KCN còn tạo điều kiện cho các địa phương ứng dụng một cách nhanh nhất các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhờ đó nâng cao được năng suất cũng như hạn chế được vấn đề gây ra ô nhiễm môi trường và nhờ đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất sẽ nâng cao trình độ cũng như tay nghề cho công nhân, cho cán bộ kỹ thuật dẫn tới có được lực lượng lao động tay nghề cao trong sản xuất, đây là điều hết sức cần thiết hiện nay.
Nguyên tắc và vai trò của xây dựng KCN Trong thời kỳ CNH, HĐH việc xây dựng các khu cụm công nghiệp tập trung là cần thiết và được nhà nước khuyến khích. Từ năm 1994 các KCN được xây dựng để cung ứng cơ sở hạ tầng thuận lợi, tạo điều kiện dễ dàng cho đầu tư nước ngoài và đặc biệt khuyến khích các DN nhỏ và vừa gia nhập các khu vực công nghiệp. Lợi ích của việc sản xuất tập trung tại các khu cụm công nghiệp so với phát triển công nghiệp tản mạn là đảm bảo tiết kiệm về kết cấu hạ tầng, quản lý hành chính và quản lý môi trường mặt khác cung cấp các dịch vụ thuận lợi hơn. Các KCN, KCX được hình thành cũng nhằm tránh sự phân tán các cơ 15 sở sản xuất trong khu dân cư sinh sống, vừa không thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vừa gây ô nhiễm môi trường xung quanh khu dân cư, làm ảnh hưởng lớn đến đời sống của công đồng dân cư trong vùng, nhất là ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.
Do đó, phát triển và phân bố các KCN được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây: - Có khả năng tạo ra kết cấu hạ tầng, thuận lợi về giao thông vận tải, cung cấp điện, cấp nước và thải nước.