CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÔNG HỢP TIEM NANG TAI NGUYEN THIEN NHIEN PHUC VU PHAT TRIEN KINH TE - XA HOI 1. Tổng quan tài liệu liên quan đến nội dung va khu vực nghiên cứu a) Các công trình nghiên cứu về đánh giá tổng hợp tiềm năng tài nguyên thiên nhiên > Trên thế giới Thực tế, chưa tìm thấy một khái niệm nào trên thế giới đồng nghĩa hoàn toàn với tài nguyên vị thế (TNVT) ở Việt Nam, mà chỉ xuất hiện khái niệm tài nguyên không gian thuộc về tài nguyên thiên nhiên. Tại Singapore đã xuất hiện khái niệm TNVT (position resources) trong một số tài liệu quan lý vùng bờ biển, nhưng không thấy xác định rõ nội hàm. Theo Chia Lin Cien (1992), tài nguyên ven bờ Singapore được chia thành ba nhóm: đất ven bờ biển và không gian biển, tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo.
Ở đây đất ven bờ biển va không gian biển ít nhiều mang nội hàm của TNVT và đó cũng chính là các giá trị cơ bản của TNVT mà Singapore đã biết phát huy đề trở thành một quốc đảo giàu có.1: Hệ thống tài nguyên thiên nhiên theo Cộng đồng Châu Âu (2002) Tài nguyên không tiêu hao Tài nguyên tiêu hao 1 2 Tài nguyên dòng: mặt tròi, | Tài nguyên sinh vật: rừng, cá, Tài gid, sóng, nước mưa. nguyên Tài nguyên nguôn: Không khí | Tài nguyên nguôn: các bôn tbì y (Oxy, CO¿), đại dương (nước) | nước ngọt, nước ngâm, dat mau. tao een nn. Tai nguyên | không gian oy ae Dat, biên, | khoảng không eee neu khôn én 3Tài nguyên có thể tái chế: 4 tái 8 Kim loai.
Tài nguyên không tai tạo va tao Tài nguyên có thé thu hoi: | không thu hôi: Nhiên liệu hoa k các khoáng sản khác, đât. thạch như dâu mỏ, ga, than. Theo Cộng đồng Châu Âu (European Commission, 2002), tài nguyên thiên nhiên được chia thành 5 dạng (bảng 1.1): 1- Tài nguyên tái tạo không tiêu hao (Re- newable resources - non-extinguishable); 2- Tài nguyên tai tạo có tiêu hao (renewable 8 resources - extinguishable); 3- Tài nguyên không tái tạo và không tiêu hao (non- renewable resources - non-extinguishable); 4- Tài nguyên không tái tạo, tiêu hao (non- renewable resources - extinguishable); 5- Tài nguyên không gian (space resources). Cách phân loại trên là theo động thái và khả năng tái tạo - tiêu hao tài nguyên.
Nếu phân theo nguồn gốc thì tài nguyên thiên nhiên gồm có ba nhóm cơ bản: tài nguyên sinh vật; tài nguyên phi sinh vật và tài nguyên không gian. Trong mối quan hệ giữa các nước lớn và các nước phát triển với các nước nhỏ và đang phát triển, vị thế địa kinh tế và vị thế địa chính trị là những vấn đề nhạy cảm. Vi vậy, các nước lớn và phát triển ít đề cập đến các yêu tô vị thé địa kinh tế và vị thé địa chính trị, chỉ công khai những mối quan tâm về nghiên cứu vị thế địa tự nhiên trong phạm trù sử dụng không gian cụ thé. Có lẽ, chỉ những nước dang phát triển như Việt Nam mới nhận thấy sự đối mặt và sự cần thiết phải đề cập vấn đề vị thế địa kinh tế và vị thế địa chính trị.
> Ở Việt Nam Từ những năm 1990, khi nghiên cứu sử dụng hợp ly tài nguyên vùng bờ biển, ở Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng, nay là Viện Tài nguyên và Môi trường biên, đã xuất hiện xu hướng sử dụng không gian theo hệ thống địa hệ (geosystems) - thuỷ vực (water bodies), tiêu biểu là những điều tra nghiên cứu và đề xuất về sử dụng hợp lý các dam phá (NC Hồi và nnk, 1996) và hệ thống vũng vịnh (TD Thạnh và nnk, 2005). Dan dan, từ ý tưởng về tài nguyên không gian biển, những khái niệm về TNVT biển, vùng bờ biển và hải đảo đã hình thành. Đã có những xu hướng ý tưởng về TNVT, tương đồng với khái niệm tài nguyên không gian và xếp tài nguyên này vào nhóm tài nguyên phi sinh vật, là “những lợi thế so sánh về phương diện địa lý, khả năng khai thác các giá trị phi vật chất và vật chất của một đơn vị lãnh thổ nhất định” và độc lập với khái niệm không gian biển (NC Hồi, 2005). Khái niệm vị thế ở đây chưa phải về tài nguyên, mà về khả năng khai thác không gian tại chỗ.
Một số tác giả, trong quá trình điều tra, nghiên cứu sử dụng không gian lãnh thé cũng đã cố gang tiếp cận dạng TNVT như vi thé và dự báo xu thé phát triển các VCS va vùng châu thé sông Mê Kông (ND Dỹ và nnk, 2009), hay vị thé của hệ thống vũng vịnh ven bờ đáp ứng phát triển bền vững hệ thống cảng biển (PV Xuân, 2005) mặc dù các nghiên cứu còn chưa rõ vê phương pháp luận. Chỉ gân đây, những vân đê vê khái niệm, phương pháp luận và tiêu chí đánh giá tiềm năng và định hướng phát huy giá trị TNVT biển, ven bờ biển va các đảo mới được xây dựng thành hệ thống, có cơ sở khoa học trong dự án 14/47: Điều tra cơ bản và đánh giá tài nguyên vị thé, kỳ quan sinh thái, dia chất vùng biển và các đảo Việt Nam” (TD Thạnh, 2007a; TD Thanh và nnk, 2008c, 20102). Tập thê tham gia thực hiện Dự án này đã tiến hành điều tra, đánh giá và công bố các kết quả nghiên cứu về TNVT biển Việt Nam (TD Thạnh, 2008a; TD Thạnh và nnk, 2010a); một sỐ vùng bờ biển của biển Việt Nam như Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (LD An và nnk, 2010); một số tinh và thành phố trọng điểm như tinh Ba Rịa - Vũng Tàu (TD Thạnh, 2007b), Thành phố Hải Phong (TD Thạnh và DV Huy, 2010b, TD Thanh và nnk, 2013) và thành Thăng Long (LD An va TD Thạnh, 2010); hệ thông vũng vịnh (TD Thạnh, 2009b), VCS Bạch Đăng (TD Thạnh, 2008a), hệ thống đảo Việt Nam và các đảo Bắc Bộ (LD An, 2008; LD An và nnk, 2010). Phân tích khả nang sử dụng TNVT biển còn được đánh giá theo các mục tiêu cụ thể như các khu neo trú tránh gió bão (TD Thạnh, 2009) hay rộng hơn phục vụ xây dựng mô hình quản lý tổng hợp vùng bờ biển Bắc Bộ (TD Thạnh và nnk, 2011).
Mặc du còn là van dé rất mới, vấn đề TNVT đã thu hút sự chú ý của các nhà khoa học, quản lý và công luận. b) Các công trình liên quan đến khu vực nghiên cứu Từ nhiều góc độ khác nhau, VCS Bach Dang đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu. Những nét cơ bản về địa ly tự nhiên VCS Bach Dang được phác thảo trong các cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, thế kỷ XV và Phan Huy Chú vào thé kỷ XVII. Từ cuối thế kỷ XIX người Pháp đã tiến hành khảo sát địa hình, thủy văn VCS Bạch Đăng.
Đáng chú ý là hoạt động của đô đốc Caxtex và kỹ sư Renaux. Trong nửa đầu thế ky XX, cũng đã có những đợt điều tra, khảo sát phục vụ cho việc phát triển mở rộng cụm cảng Hải Phòng - Quảng Yên - Điền Công. Những hoạt động này được tông kết trong các báo cáo của các giám đốc cảng Hải Phòng Lapique và Gauthier. Các tác giả này đều cho rằng VCS Bạch Đăng nằm trong chế độ bồi tụ châu thổ của hệ thống sông Thái Bình.
Những khảo sát địa hình, thủy văn phục vụ mục tiêu cải tại cảng còn được tiến hành do các chuyên gia Liên Xô vào năm 1959 - 1964; các chuyên gia Ba Lan năm 1978 và các dự án UNDP VIE/88/014 (1991 - 1992). 10 Trong những năm 1980 - 1990, VCS Bach Đăng trở thành địa bản nghiên cứu quan trọng của Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Hàn lâm Khoa học vad Công nghệ Việt Nam) trong các dé tài cấp nhà nước thuộc chương trình biến: 48.14 “Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và nguồn lợi dai ven biển Việt Nam”, 48B.02 “Nghiên cứu sử dụng hợp lý các bãi triều lầy ven biển phía Bắc Việt Nam”. Đến những năm 1990 - 1993, Doan địa chất Hà Nội đã tiến hành lập ban đồ địa chất tỷ lệ 1/50.000 tờ Hải Phòng (NQ Toàn và nnk, 1993) và Viện Tài nguyên và Môi trường biển đã tiến hành lập bản đồ môi trường địa chất ven bờ Hải Phòng tỉ lệ 1/50. Từ những năm 1990 trở lại đây, VCS Bạch Đăng là khu vực có nhiều hoạt động điều tra, nghiên cứu về tài nguyên sinh vật, điều kiện khí tượng thủy văn và môi trường trong các đề tài, dự án từ cấp tỉnh/thành phó, cấp bộ ngành đến cấp nhà nước và các nhiệm vụ hợp tác Quốc tế do nhiều đơn vị, trong đó nỗi bật là Viện Tài nguyên và Môi trường biển thực hiện.
Tuy nhiên, lần đầu tiên tài nguyên vi thế VCS Bạch Đăng được điều tra và đánh giá trong Dự án số 14: “Điều tra cơ bản và đánh giá tài nguyên vị thế, kỳ quan sinh thái và địa chat vùng biển và các đảo Việt Nam” thuộc đề án tong thé 47 về “Điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biên đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020”, được thực hiện trong các năm 2007 — 2011 do Viện Tài nguyên và Môi trường biển là cơ quan chủ trì và PGS. Trần Đức Thanh làm chủ nhiệm. Khái niệm cơ bản về tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên là con người, tài sản, nguyên vật liệu, nguồn vốn có thể sử dụng dé đạt được một mục đích. Tài nguyên thiên nhiên là tài nguyên xuất hiện trong tự nhiên có thể sử dụng để tạo ra lợi ích.
Tài nguyên thiên nhiên là một đặc tính hoặc một hợp phần của môi trường tự nhiên có giá trị phục vụ cho nhu cầu của con người như đất, nước, động vật, thực vật, v. Tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế và giá tri phi kinh té (EEA, 2007). Tài nguyên thiên nhiên, theo nguồn gốc, được chia thành tài nguyên sinh vật va tai nguyên phi sinh vat. Theo khả năng tái tao, chúng được chia thành tai nguyên tái tạo và không tái tạo, tài nguyên tiêu hao và không tiêu hao.
Tài nguyên tái tạo sinh vật như tôm, cá, thực vật ngập mặn, v. có thê tự phục hôi tới mức chúng được lây ra nêu 11 không bị khai thác quá mức. Tài nguyên tái tạo phi sinh vật bao gồm đất và các tài nguyên năng lượng như gió, thuỷ triều, sóng biển và bức xạ mặt trời. Tài nguyên không tái tạo điển hình là khoáng sản.