Mở đầu. Chƣơng 1: Tổng quan Chƣơng 2: Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và kiến nghị. Phạm Khánh Chi K16 - Cao học Môi trường 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phân vùng chức năng môi trường tỉnh Nghệ An Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về nghiên cứu phân vùng chức năng môi trƣờng trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Quan niệm về phân vùng Phân vùng (zoning) là việc phân chia lãnh thổ thành các đơn vị tƣơng đối đồng nhất theo các tiêu chí và các mục tiêu nhất định nhằm đơn giản hoá việc nghiên cứu hay quản lý có hiệu quả hơn theo đặc thù riêng của từng đơn vị trong vùng [14]. Phân vùng đƣợc xem nhƣ một phƣơng pháp toàn năng nhằm sắp xếp và hệ thống lại các hệ thống lãnh thổ, đã đƣợc sử dụng rộng rãi trong các khoa học địa lý, kể cả phân vùng vùng tự nhiên bộ phận cũng nhƣ phân vùng địa lý tự nhiên tổng hợp [4]. Mỗi vùng là một đơn vị lãnh thổ có những đặc điểm tƣơng đồng và các mối liên kết với nhau theo một số quy luật đặc thù tùy theo mục tiêu của hệ thống phân vùng. Mỗi hệ thống phân vùng đƣợc xác định bằng các hệ thống chỉ tiêu và tiêu chí đƣợc xây dựng trên cơ sở mục tiêu phân loại vùng và mục tiêu sử dụng kết quả phân vùng ấy.
Quy mô của các đơn vị lãnh thổ (vùng, tiểu vùng) phụ thuộc vào mức độ đồng nhất các yếu tố tự nhiên của lãnh thổ đó và tuỳ thuộc vào việc sử dụng lãnh thổ cho các mục đích khác nhau. Phân vùng trong các ngành khác nhau có thể là: phân vùng địa lý tự nhiên, phân vùng địa chất, phân vùng khí hậu, phân vùng sinh thái, phân vùng cảnh quan, phân vùng kinh tế, phân vùng môi trƣờng,. Phạm Khánh Chi K16 - Cao học Môi trường 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phân vùng chức năng môi trường tỉnh Nghệ An Phân vùng địa lý tự nhiênlà sự phát hiện những khác biệt địa lý tự nhiên của các cá thể đƣợc hình thành trong lịch sử, do kết quả tác động của các nhân tố địa đới và phi địa đới của sự phân hóa địa lý trên bề mặt Trái đất [6]. Nguyên tắc quan trọng nhất của phân vùng địa lý tự nhiên là nguyên tắc thừa nhận tính chất khách quan của công tác phân vùng.
Hệ thống các đơn vị phân vùng là sự phản ánh các quy luật khách quan của địa lý tự nhiên. Tác động của các nhân tố địa đới và phi địa đới đã tạo nên sự hình thành trong tự nhiên các thể tổng hợp lãnh thổ các cấp và đây là cơ sở quan trọng khi phân vùng địa lý tự nhiên [4]. Tổ phân vùng Địa lý tự nhiên, thuộc Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nƣớc (1970), đã phân vùng lãnh thổ Bắc Việt Nam theo một hệ thống phân vị với 6 Miền, 8 Á miền và 51 Vùng khác nhau [16]. Phân vùng sinh thái là sự phân chia lãnh thổ thành các đơn vị đặc trƣng bởi các phản ứng sinh thái đối với khí hậu trái đất, thực vật, động vật và hệ thống thủy vực.
Phân vùng sinh thái để tạo cơ sở cho việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả tối ƣu, phát huy đầy đủ tiềm năng của vùng. Cơ sở khoa học để phân vùng sinh thái là dựa trên các nhân tố: đất (nhóm đất, loại đất, địa hình, địa mạo); nƣớc (tính chất, đặc điểm nguồn nƣớc, khả năng khai thác vận chuyển và phân phối nƣớc); dòng chảy mặt (mô đun dòng chảy); khí hậu (nắng, mƣa, độ ẩm, nhiệt độ, gió, bão); hệ thống cây trồng, vật nuôi và thảm phủ thực vật,…[7]. Phân vùng kinh tế là quá trình nghiên cứu phân chia lãnh thổ đất nƣớc ta thành một hệ thống các vùng kinh tế, là quá trình vạch ra hoặc tiếp tục điều chỉnh ranh giới hợp lý của toàn bộ hệ thống vùng, định hƣớng chuyên môn hóa sản xuất cho vùng và xác định cơ cấu kinh tế vùng ứng với các kế hoạch phát triển dài hạn nền kinh tế quốc dân (15÷20 năm). Theo phân loại vùng kinh tế, phân vùng kinh tế gồm có phân vùng kinh tế tổng hợp và phân vùng kinh tế ngành.
Phân vùng kinh tế ngành là cơ sở để xây dựng kế hoạch hóa theo ngành và quản lý kinh tế theo ngành, đồng thời còn là cơ sở để quy hoạch vùng kinh tế tổng hợp theo từng ngành. Việt Nam hiện đƣợc chia thành 6 vùng kinh tế và 3 vùng kinh tế trọng điểm. Phân vùng chuyên môn hóa lớn đặc thù cũng đã đƣợc hình thành, nhƣ: vùng than - nhiệt điện Phạm Khánh Chi K16 - Cao học Môi trường 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phân vùng chức năng môi trường tỉnh Nghệ An Quảng Ninh; vùng lâm sản - khai thác và chế biến kim loại Việt Bắc; vùng lƣơng thực - cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm phía đông nam đồng bằng Bắc Bộ; vùng gỗ giấy và thủy điện Tây Bắc Bắc Bộ; vùng cơ khí và chế biến hàng tiêu dùng ở Hà Nội và xung quanh Hà Nội; vùng khai thác gỗ, lâm sản và cây công nghiệp lâu năm dọc Trung Bộ; vùng cơ khí - chế biến hàng tiêu dùng, hải sản, gỗ giấy, thực phẩm, dầu lửa, du lịch,… ở Đông Nam Bộ; vùng lƣơng thực, thực phẩm Tây Nam Bộ. Phân vùng chức năng môi trường trên thế giới và ở Việt Nam Trong quản lý tài nguyên và môi trƣờng, phân vùng ban đầu đƣợc sử dụng để quản lý sử dụng đất đai ở một khu vực nhất định, có thể là khu vực đô thị hoặc khu vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp.
Nhƣ vậy, về mặt lịch sử, khái niệm về phân vùng có liên quan chặt chẽ đến việc quy hoạch sử dụng đất đai (land use planning)[5]. Quy hoạch sử dụng đất chính là một phƣơng pháp đánh giá mang tính hệ thống các tiềm năng đất, nƣớc, các phƣơng án sử dụng các tiềm năng này và các điều kiện kinh tế - xã hội cần thiết để lựa chọn phƣơng án sử dụng đất tốt nhất, hiệu quả nhất phục vụ cho mục đích phát triển. Nói cách khác, các biện pháp này chính là phƣơng án phân vùng kèm theo hệ thống các điều kiện và tiêu chuẩn quy định (đôi khi mang tính pháp lý) và thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực sử dụng đất theo đúng định hƣớng đã đặt ra. Hiện nay, phƣơng pháp phân vùng nói trên đƣợc mở rộng phạm vi áp dụng sang rất nhiều lĩnh vực hoặc các ngành sử dụng tài nguyên có liên quan.
Mục đích chủ yếu của phân vùng là chia các vùng để sử dụng tài nguyên một cách hợp lý. Trên thực tế, phân vùng là hệ thống cho phép ngăn ngừa các tác động bất lợi của sự phát triển đối với tài nguyên, môi trƣờng. Trên thế giới, việc phân vùng đã đƣợc sử dụng rộng rãi trong quy hoạch đô thị, điều chỉnh sử dụng đất ở Bắc Mỹ, Anh và Úc,. Trong khi các thành phố của châu Âu kiểm soát phát triển từ cuối thế kỷ 19 mà ngày nay đƣợc biết nhƣ phân vùng chức năng.
Thành phố New York phân vùng đầu tiên vào năm 1916. Vào cuối Phạm Khánh Chi K16 - Cao học Môi trường 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phân vùng chức năng môi trường tỉnh Nghệ An những năm 1920, nhiều nƣớc đã thực hiện việc điều chỉnh phân vùng chức năng đáp ứng nhu cầu phát triển [14]. Trong thiết kế quy hoạch môi trƣờng, phân vùng là một công cụ kỹ thuật quan trọng, đƣợc ứng dụng theo cách này hay cách khác [12]. Zhao Ning và Zeng Duzhong (1994) đã giới thiệu về quy hoạch môi trƣờng ở Trung Quốc thông qua một trƣờng hợp điển hình, đó là quy hoạch môi trƣờng thung lũng Honghe.
Dựa trên các nghiên cứu sâu về mối tƣơng tác, các ảnh hƣởng và những điều luật hiện hành liên quan đến dân số, tài nguyên, kinh tế và môi trƣờng, ngƣời ta đã chia lãnh thổ quy hoạch thành các khu vực chức năng môi trƣờng (gồm 3 khu vực môi trƣờng lớn, 7 khu vực phụ và 24 tiểu khu vực) và các khu vực chức năng thành phần môi trƣờng [12]. Trong Quy hoạch Chiến lƣợc và Hành động của thành phố Belo Horizonte, Brazil, các nhà quản lý đã tích hợp các vấn đề môi trƣờng vào trong quy hoạch chung của thành phố. Trong đó, hai kiểu phân vùng môi trƣờng đã đƣợc sử dụng, bao gồm: các vùng bảo vệ cảnh quan và môi trƣờng nhằm bảo tồn chất lƣợng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khu vực; và các vùng bảo vệ môi trƣờng nhằm duy trì các khu vực hỗ trợ cho sự cân bằng môi trƣờng của thành phố [22]. Cũng trong quy hoạch chung sửa đổi của thành phố Shenyang, giai đoạn 1996 - 2010, bảo vệ môi trƣờng là một chƣơng quan trọng trong quy hoạch.
Theo đó, vị trí của các dự án phát triển mới sẽ phải phù hợp với phân vùng môi trƣờng trong quy hoạch. Không một khu công nghiệp gây ô nhiễm nào đƣợc cho phép xây dựng trong trung tâm thành phố cũng nhƣ những xí nghiệp gây ô nhiễm cao đang tồn tại sẽ đƣợc dời đến khu vực ngoại ô thông qua việc áp dụng các biện pháp khuyến khích cũng nhƣ bắt buộc theo quy định[22]. UN-Habitat và UNEP (2008), trong tài liệu Hƣớng dẫn xây dựng Hệ thống thông tin quản lý môi trƣờng, thuộc Chƣơng trình vì các thành phố bền vững (Sustainable Cities Programme), đã giới thiệu phân vùng nhƣ là một trong những công cụ đắc lực không thể thiếu trong việc xây dựng một Khung quản lý môi trƣờng Phạm Khánh Chi K16 - Cao học Môi trường 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phân vùng chức năng môi trường tỉnh Nghệ An hiệu quả cho một khu vực lãnh thổ. Bản đồ phân vùng môi trƣờng là kết quả của việc tổng hợp từ các bản đồ về sự phù hợp của các khu vực cho mục đích sử dụng xác định (suitability map) và các bản đồ nhạy cảm môi trƣờng (sensitivity map) nhằm phân vùng khu vực nghiên cứu thành những vùng và tiểu vùng phù hợp với các mục đích sử dụng và bảo vệ khác nhau [23].
Để hạn chế ảnh hƣởng do các xung đột môi trƣờng gây ra bởi việc sử đụng đất không hợp lý, đất nƣớc Santa Maria đã tiến hành phân vùng môi trƣờng thông qua 6 tiêu chí môi trƣờng là: độ dốc, mật độ thoát nƣớc, độ nhám bề mặt đất, độ che phủ, đất cƣ trú, tính chất của đất. Các vùng môi trƣờng đƣợc xác định là: Vùng phục hồi; Vùng do con người sử dụng; Vùng bảo tồn thường xuyên.