CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM NHỰA TOÀN CẦU 1. Ô nhiễm nhựa trên thế giới Sản xuất nhựa toàn cầu đã tăng rất nhanh, theo báo cáo của Hiệp hội Các nhà sản xuất nhựa Châu Âu tổng sản lượng nhựa toàn cầu tăng từ 1,5 triệu tấn trong những năm 1950 lên đến 335 triệu tấn vào năm 2017 nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng của con người.
Kể từ những năm 1950, sự tăng trưởng về sản lượng của sản xuất nhựa đã phát triển rất mạnh so với các vật liệu khác, với sự thay đổi trên toàn cầu từ sản xuất nhựa bền sang sản xuất nhựa dùng 1 lần. Khoảng 40 – 50% số lượng các sản phẩm nhựa sản xuất được dùng cho các mục đích sử dụng 1 lần như: vỏ chai, bao bì thực phẩm, ống hút,… Phần lớn nhựa sử dụng 1 lần được sản xuất chủ yếu ở các nước ở khu vực Châu Á như: Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO – World Health Organization) cho biết mỗi phút cả thế giới tiêu thụ 1 triệu chai nhựa, mỗi năm có 5.000 tỷ túi nilon được sử dụng,… và chưa kể đến các loại sản phẩm làm từ nhựa khác như: đồ dùng, bàn, ghế, tã, đồ chơi,… cho đến nay toàn thế giới đã sản xuất ra 8,3 tỉ tấn nhựa, trong đó có 6,3 tỷ tấn là rác thải nhựa. Trung bình mỗi năm thế giới thải ra môi trường khoảng 300 triệu tấn rác thải nhựa thì có khoảng 8 triệu tấn bị thải ra biển. Tổ chức Bảo vệ môi trường biển Ocean Conservancy dự báo tới năm 2025, cứ 3 tấn cá sẽ có 1 tấn rác thải nhựa.
Trong 50 năm qua lượng nhựa được sử dụng tăng 20 lần và theo dự báo lượng nhựa sử dụng có thể sẽ tăng gấp đôi trong 20 năm nữa [1]. Thống kê từ các tổ chức như WHO, EPA (Environmental Protection Agency – cơ quản bảo vệ môi trường Mỹ) cho thấy trong số 6,3 tỉ tấn là rác thải nhựa đang tồn tại trong môi trường thì chỉ có 09% rác thải nhựa được tái chế, 12% rác thải nhựa được xử lý bằng phương pháp thiêu đốt, 79% còn lại tồn tại trong môi trường tự nhiên, bao gồm cả môi trường biển. Dự báo năm 2050 sẽ có hơn 13 tỷ tấn rác thải nhựa được chôn lấp hoặc xả thẳng ra đại dương. Ô nhiễm rác thải nhựa ở đại dương [26] Các con số trên cho thấy việc xử lý, tái chế rác thải nhựa chưa mang lại hiệu quả cao, thực trạng này đã cho thấy ô nhiễm rác thải nhựa trở nên báo động trên toàn cầu.
Trung Quốc và Indonesia là 2 quốc gia xả nhiều rác thải nhựa ra biển nhất hiện nay với 8,8 triệu tấn và 3,2 triệu tấn mỗi năm. Việt Nam hiện đứng thứ 4 trên thế giới sau Philippines với 1,8 triệu tấn rác thải nhựa [2]. Hầu hết các loại nhựa đều khó phân hủy hoặc thời gian phân hủy chậm và lưu trữ lâu dài từ hàng trăm đến hàng ngàn năm trong môi trường tự nhiên, gây ra các tác động tiêu cực đến các hệ sinh thái trong đó có hệ sinh thái biển và đại dương. Dưới tác động của sóng, nhiệt độ, tia UV, và các yếu tố môi trường khác thì các mảnh nhựa lớn dần bị vỡ vụn ra theo thời gian và trôi nổi trong đại dương.
Lượng rác thải nhựa không được xử lý tại một số quốc gia Ô nhiễm rác thải nhựa là một trong những mối đe doạ và thách thức đối với môi trường, kinh tế và xã hội toàn cầu. Nhựa là các polymer hữu cơ tổng hợp hoặc bán tổng hợp có trọng lượng phân tử cao được dùng làm nguyên liệu để sản xuất nhiều loại vật dụng hàng ngày cũng như những sản phẩm công nghiệp, gắn với đời sống hiện đại của con người. Nhựa có nguồn gốc chủ yếu từ các sản phẩm hoá dầu [1,25]. Do chi phí thấp, dễ sản xuất, tính linh hoạt, không thấm nước, nhẹ, độ bền cao, nhựa được sử dụng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống như đóng gói bao bì, xây dựng, giao thông, y tế, gia dụng, điện, thiết bị điện tử, đồ chơi, thiết kế sản xuất, đồ chơi, nông nghiệp.
Các loại nhựa phổ biến nhất tính theo khối lượng sản xuất bao gồm polyetylen (PE; polyetylen mật độ thấp (LDPE) và polyetylen mật độ cao (HDPE), polypropylen (PP), polystyren (PS), polyetylen terephthalate (PET), polyvinyl clorua (PVC), với khoảng 90% sản lượng nhựa trên toàn thế giới [8]. Do đặc điểm cấu trúc là các polymer tổng hợp nhân tạo, có độ linh hoạt, độ bền cao làm cho nhựa là vật liệu được ưa thích và sử dụng phổ biến trong cuộc sống 8 của con người. Tuy nhiên, theo Mathalon và Hill, (2014) các đặc tính này nếu không được xử lý phù hợp sẽ trở thành mối đe doạ đối với môi trường.Với độ bền cao, nhựa có tốc độ phân huỷ rất chậm và có thể tồn tại trong môi trường trong thời gian được ước tính từ 50 năm tới 600 năm. Ô nhiễm nhựa ở Việt Nam Theo số liệu từ Tổng cục Môi trường – Bộ Tài nguyên và Môi trường, lượng rác thải rắn ở đô thị Việt Nam tăng từ 10 đến 16% mỗi năm.
Theo ước tính, mỗi năm Việt Nam thải ra trên 30 triệu tấn chất thải rắn, một phần ba số lượng này đến từ các khu vực đô thị, và chỉ 10% chất thải được thu hồi để tái chế hoặc tái sử dụng. Phần lớn chất thải rắn được xử lý bằng phương pháp chôn lấp. Một phần được xử lý bằng phương pháp đốt tiêu hủy với quy mô khác nhau từ 10 – 150 tấn/ngày; trong đó chủ yếu là công nghệ đốt không sử dụng nhiên liệu quy mô nhỏ từ 10 – 12 tấn/ngày. Rác thải nhựa tại bãi rác tại TP Đà Nẵng Theo báo cáo của Hiệp hội nhựa, ngành công nghiệp nhựa ở Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây.
Giai đoạn 2010 – 9 2015, công nghiệp nhựa là một trong những ngành công nghiệp có mức tăng trưởng cao nhất Việt Nam với mức tăng từ 16 – 18%/năm. Năm 2015, Việt Nam sản xuất và tiêu thụ khoảng 5 triệu tấn nhựa, trong đó khoảng 80% nguyên liệu nhập khẩu sử dụng từ nhựa phế liệu. Sự tăng trưởng sản lượng nhựa ở Việt Nam giai đoạn 2001-2016 Chỉ số tiêu thụ nhựa trên đầu người Việt Nam tăng nhanh từ 3,8 kg/người năm 1990 lên 41 kg/người năm 2015, tăng lên 54 kg/năm/người vào năm 2018, trong đó 37,43% sản phẩm là bao bì và 29,26% là đồ gia dụng [3,4].000 túi nhựa được tiêu thụ, nhưng chỉ có 27% trong số chúng được xử lý và tái chế. Lĩnh vực tái chế chất thải nhựa ở Việt Nam vẫn chưa phát triển, có tới 90% doanh nghiệp ngành nhựa không chủ động được nguồn nguyên liệu vì nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được 15 – 20% và chủ yếu là tái sinh từ chất thải nhựa, còn hạt nhựa nguyên sinh phải nhập khẩu hoàn toàn, tỷ lệ phân loại chất thải nhựa tại nguồn rất thấp.
Bên cạnh một số nhà máy sản xuất hoặc tái chế nhựa có quy mô trung bình đặt rải rác ở một vài địa phương, hầu hết các cơ sở còn lại đều có quy mô nhỏ, công nghệ thô sơ, lạc hậu, chủ yếu tập trung tại các làng nghề nên hiệu quả thấp, giá thành rẻ, chất lượng không cao,. Do đó hoạt động sản xuất cũng như tái chế nhựa thường gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất, nước và không khí [31]. Mặt khác, rác thải nhựa ở nước ta bị xem là có giá trị thấp hoặc không có giá trị và bị thải ra môi trường. 10 Theo số liệu của tổng cục thống kê, ngành nhựa hiện tại có khoảng hơn 3.300 doanh nghiệp đang hoạt động.
Trong đó các doanh nghiệp sản xuất trong mảng nhựa bao bì chiếm tỷ trọng lớn nhất với 41% trong cơ cấu tương đương với khoảng 1. Các doanh nghiệp hoạt động trong hai mảng là nhựa xây dựng và nhựa dân dụng chiếm lần lượt 24% và 20% trong tổng số các doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam. Theo khu vực địa lý, các doanh nghiệp ngành nhựa tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam với khoảng 55% số doanh nghiệp đang hoạt động tại khu vực này. Khu vực miền Bắc và miền Trung tập trung lần lượt 37% và 9% phân bố của các doanh nghiệp ngành nhựa.
Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm do rác thải nhựa ngày càng gia tăng. Ước tính, mỗi năm có hơn 1,8 triệu tấn rác thải nhựa được thải ra tại Việt Nam, đứng thứ 4 trên thế giới nhưng chỉ 27% trong số đó được tái chế [2,3]. Việt Nam cũng đang đối mặt với nguy cơ trở thành bãi tập kết rác toàn cầu với lượng rác thải nhựa tăng đến 200% trong năm vừa qua. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi ngày Việt Nam thải ra khoảng 18.000 tấn rác thải nhựa.
Chỉ riêng các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, trung bình một ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa và túi nilông. Theo khảo sát của trung tâm phát triển xanh GreenHub, một số tỉnh ven biển Việt Nam như Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Vũng Tàu là những nơi có nhiều rác thải nhựa trên biển từ các nguồn thải đô thị, sinh hoạt, nông nghiệp, bệnh viện, nuôi trồng thuỷ sản và các hoạt động giao thông vận tải,. Tại Hải Phòng, rác tập trung chủ yếu ở cửa sông, khu neo đậu tàu thuyền, khu dân cư. Theo Kieu và cs, khoảng 2.000 tấn mảnh vụn nhựa trôi nổi được thu thập hàng năm từ các kênh thải của đô thị [5].
Hiện nay, Việt Nam chưa có nghiên cứu hoặc thống kê định lượng nào về lượng RTN tại các vùng biển ven bờ, trong đó có các Khu bảo tồn biển, là khu vực chịu ảnh hưởng do ô nhiễm rác thải trên biển. Việc lạm dụng sử dụng túi ni lông khó phân huỷ và các sản phẩm nhựa, đặc biệt là đồ nhựa dùng một lần đã và đang để lại những hậu quả khôn lường đối với môi trường. Các 11 nghiên cứu gần đây cho thấy, trung bình để phân huỷ hoàn toàn các chất thải từ nhựa và ni lông phải mất hàng trăm, thậm chí tới hàng nghìn năm. Rác thải nhựa nằm rất nhiều dưới đáy đại dương và sẽ trở thành một phần thức ăn đầu độc các sinh vật biển.
Mặc dù là một trong các nước nằm trong danh sách nước có lượng rác thải nhựa ra đại dương nhiều nhất trên thế giới nhưng các nghiên cứu về ô nhiễm rác thải nhựa nói chung và ô nhiễm vi nhựa trong các hệ sinh thái (nước ngọt, nước lợ và nước mặn) tại Việt Nam còn rất hạn chế.