CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu quản lý tổng hợp từng loại tài nguyên thiên nhiên a) Quản lý tổng hợp tài nguyên nước Trong thập kỷ qua, Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về Châu Âu, Liên minh Châu Âu, và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế đã cùng nỗ lực thúc đẩy quản lý tổng hợp tài nguyên nước và hỗ trợ cải cách lĩnh vực nước ở Đông Âu, Kavkaz và Trung Á, với sự cộng tác của một số quốc gia châu Âu và các tổ chức quốc tế [99].
Các nguyên tắc quản lý tổng hợp nguồn nước ngày càng được áp dụng rộng rãi hơn. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước là một quá trình thúc đẩy hoạt động phối hợp trong quản lý và phát triển nước, đất đai, và các nguồn tài nguyên khác nhằm tối đa hóa phúc lợi kinh tế và xã hội một cách công bằng, đồng thời không ảnh hưởng đến tính bền vững của các hệ sinh thái quan trọng. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước là cách tiếp cận chính sách liên ngành, được thiết kế để thay thế cách tiếp cận truyền thống theo từng ngành riêng rẽ, nhằm khắc phục tình trạng quản lý manh mún về nguồn nước, các dịch vụ kém chất lượng và quản lý tài nguyên không bền vững. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước dựa trên nhận thức rằng tài nguyên nước là một nguồn tài nguyên, thành phần cấu thành của hệ sinh thái, và là sản phẩm kinh tế - xã hội [52].
Cạnh tranh tài nguyên nước tại các nước Đông Âu, Kavkaz, và Trung Á ngày càng trở nên gay gắt do nhu cầu ngày càng tăng từ nông nghiệp, năng lượng, công nghiệp, và các thành phố. Điều này càng củng cố tầm quan trọng của bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên nước ngọt trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang tạo ra bất ổn về khả năng cung cấp nước trong tương lai. Để đảm bảo đáp ứng các nhu cầu cạnh tranh này, đòi hỏi một khung chính sách mạnh mẽ và đầu tư phù hợp. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước tuân thủ 5 nguyên tắc sau: theo lưu vực; phối hợp liên ngành và theo chiều dọc; minh bạch và tham gia của các bên liên quan; đảm bảo bền vững trong sử dụng tài nguyên nước, bao gồm bảo vệ các hệ sinh thái; và ổn định về tài chính trong quản lý và sử dụng các công cụ kinh tế [99].
Mitchell (2005) chỉ ra, quản lý tổng hợp tài nguyên nước là cách tiếp cận hệ thống, tổng thể, hoặc hệ sinh thái thường được ủng hộ trong quản lý nước. Cách tiếp 6 cận này có thể được hiểu là 'toàn diện' hoặc 'tích hợp'. Tuy nhiên, Các vấn đề về ranh giới luôn gặp phải khi áp dụng cách tiếp cận tổng thể, và điều này có thể dẫn đến thách thức trong thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Bằng cách liên kết quản lý tổng hợp tài nguyên nước với quy hoạch sử dụng đất và các kế hoạch chính thức ở cấp địa phương, quản lý tổng hợp tài nguyên nước có thể được công nhận và kết nối một cách có hệ thống với các vấn đề liên quan đến đất đai [74].
Ai Cập đang đối mặt với vấn đề thiếu hụt nước lớn do nguồn nước hạn chế và nhu cầu ngày càng tăng do sự gia tăng dân số cao và phát triển trong các ngành công nghiệp và nông nghiệp. Vì vậy, áp dụng các chiến lược mới trong quản lý nước, quản lý tổng hợp tài nguyên nước là cần thiết để giảm thiếu hụt nước và kiểm soát nguồn tài nguyên nước với nhu cầu để vượt qua vấn đề nguồn lực hạn chế trong khi dân số, các dự án phát triển và công nghiệp ngày càng tăng [82]. Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Phan Quý Giang và các cộng sự (2012) chỉ ra, ở Việt Nam, chuyển từ lý thuyết đến thực hiện thành công quản lý tổng hợp tài nguyên nước trong thực tiễn dường như khó khăn hơn tại các quốc gia khác trên thế giới do Việt Nam nằm ở khu vực nhạy cảm với biến đổi khí hậu, đã trải qua những biến đổi lớn về biến đổi khí hậu và các tác động của nó. Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình đã tăng 0,7°C, mực nước biển đã dâng cao 20cm, hàng ngàn hecta đất ngập nước ở các vùng ven biển đã bị ngập vĩnh viễn bởi nước mặn, lũ lụt và hạn hán đã xảy ra thường xuyên hơn và nghiêm trọng hơn.
Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của tích hợp quản lý tổng hợp tài nguyên nước và giảm thiểu cũng như thích ứng với biến đổi khí hậu, và cho rằng quản lý tài nguyên nước bền vững chỉ có thể đạt được khi các hành động giảm thiểu cũng như thích ứng với biến đổi khí hậu được tích hợp tốt vào quá trình thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước [80]. Trần Văn Trà và cộng sự (2022) chỉ ra, mức độ thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Đồng bằng sông Cửu Long đạt mức trung bình cao. Các tác giả dùng phương pháp Delphi để thực hiện đánh giá các khía cạnh ảnh hưởng tới quản lý tài nguyên nước. Môi trường thuận lợi có điểm số tốt hơn đáng kể so với ba thành phần khác, trong khi khía cạnh tài chính lại thiếu hụt.
Điều này phản ánh nỗ lực của chính phủ trong quản lý hiệu quả tài nguyên nước trong khu vực. Tuy nhiên, do hạn chế về năng lực kỹ thuật và tài chính cho hoạt động thực hiện, nỗ lực này được coi là chưa đủ [98]. 7 b) Quản lý tổng hợp tài nguyên đất Nhu cầu về lương thực toàn cầu được dự đoán sẽ tăng lên rất lớn trong thời gian tới, tạo ra những trở ngại đối với bền vững trong sản xuất lương thực và môi trường. Bởi thế, yêu cầu lớn nhất đối quản lý đất đai sao cho sử dụng tài nguyên đất và nước tốt nhất tại những vùng bán khô hạn và khô hạn tại những nước đang phát triển, bao gồm vùng bán Sahara châu Phi, cũng như những vùng rộng lớn của Ấn độ, Trung Á và vùng Đông Bắc Braxin.
Những công nghệ này nên tăng cường kết cấu đất, cải thiện hiệu quả sử dụng dinh dưỡng, bảo tồn nguồn tài nguyên giá trị đất và nước, và tại những nơi có thể thì tiến hành thâm canh tăng vụ [65]. Đạt được những mục đích này, quản lý tổng hợp đất đai mở ra một hướng đi trong tương lai. Tuy nhiên, quản lý tổng hợp đất đai phụ thuộc rất lớn vào các điều kiện chính sách cũng như những thay đổi về văn hóa và giáo dục để đưa chính sách vào cuộc sống. Quản lý tổng hợp tài nguyên đất đang và sẽ được thực hiện tại các nước phát triển [61].
Trong công trình “Cải thiện các hệ thống chăn nuôi trồng trọt tại những vùng bán khô hạn Tây Phi”, các nhà nghiên cứu thuộc IITA, ILRI và ICRISAT (2000) đã tập trung vào lựa chọn và quản lý tổng hợp mô hình canh tác nông nghiệp thay thế mô hình canh tác hiện tại tại địa phương nhằm cải thiện chất lượng đất đai, tận dụng nguồn nước và đa dạng sinh học. Để xác định mô hình thay thế, nghiên cứu có sự tham gia của nhiều bên từ người dân, nhà quản lý, cơ quan nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu được xác định rõ ràng; ưu tiên của các bên được xác định rõ ràng; và coi trọng giá trị và chức năng đa dạng của mô hình thay thế [56]. Vấn đề được xác định đối với nghiên cứu này là tại những vùng khô hạn Châu Phi cận Shahara, những hệ thống canh tác truyền thống đang bị thất bại do canh tác được mở rộng và không có thời kỳ bỏ hóa. Hậu quả là năng suất của đất đai suy giảm và xuất hiện của các hoạt động canh tác không bền vững có thể tác động xấu tới người nghèo, tới an toàn lương thực của họ và tới môi trường.
Nghiên cứu này tập trung vào phân tích tổng hợp các giải pháp thay thế, và được thực hiện tại những địa điểm mang tính đại diện phản ánh các hệ canh tác sinh thái nông nghiệp chính. Tiếp cận bao gồm hoạt động phát triển các lựa chọn quản lý tốt nhất đối với các yếu tố đa dạng cây trồng, quản lý vật nuôi và chất thải của vật nuôi và con người. Chúng được đánh giá trực tiếp trên đồng ruộng bằng cách sử dụng một 8 chiến lược tổng thể bao gồm giám sát về kinh tế, xã hội và sinh thái. Trong điều kiện môi trường tại địa phương, các hệ thống tổng hợp cây trồng vật nuôi được cho là có tiềm năng cao nhất để tăng năng suất và sản lượng canh tác theo hướng bền vững.
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy lựa chọn cho quản lý tổng hợp cây trồng vật nuôi đều cho sản lượng cao hơn cả về cây trồng và vật nuôi. Điều này chứng tỏ mô hình quản lý tổng hợp mang lại hiệu quả cao hơn đối với mô hình canh tác đơn thuần của người dân. Nghiên cứu cũng chỉ ra ưu tiên hàng đầu của nông dân là lương thực sau đó là thu nhập, họ cũng nhận ra tầm quan trọng của quản lý TNTN. Bước đầu triển khai nghiên cứu, phần lớn các hộ không tham gia, tuy nhiên sau khi một số hộ tham gia cho kết quả tốt thì người dân đã tham gia thông qua hoạt động học hỏi lẫn nhau.
Từ đây cho thấy vai trò quan trọng của quá trình học hỏi lẫn nhau trong cộng đồng và tầm quan trọng của làm việc cùng nhau giữa các bên tham gia [56]. Quản lý tổng hợp đất liên quan đến một chiến lược tổng hợp trong quản lý hiệu quả dinh dưỡng, mùa vụ, nước, đất và đất đai cho sản xuất nông nghiệp bền vững và những mục đích sử dụng đất khác. Nông nghiệp bền vững đòi hỏi bảo tồn đất và nước, cũng như nguồn gen động thực vật, không làm suy thoái môi trường, khả thi về mặt kinh tế và được xã hội chấp nhận. Các hoạt động có thể được điều chỉnh cho phù hợp với tính chất của lập địa, đất, và quan trọng là đối với những trở ngại về kinh tế, xã hội và môi trường mà nông dân đang phải đối mặt.