CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Chương đầu tiên trình bày tổng hợp các bài viết nghiên cứu hệ thống ABC trên thế giới và tại Việt Nam. Dựa vào các kết quả nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, tác giả xác định khe hổng nghiên cứu.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu hệ thống ABC trên thế giới 1.1 Các nghiên cứu về sự cần thiết vận dụng hệ thống ABC trên thế giới Nghiên cứu của Kaplan R.S Robert và Robin Cooper: -“Cost & Effect – Using Intergrated Cost Systems to Drive Profitability and Performance”. Robert, Robin Cooper, 1998. Tác giả Kaplan and Cooper (1998) nhận định rằng hệ thống kế toán chi phí phải thực hiện được ba chức năng cơ bản sau: Hệ thống kế toán chi phí phải định giá được giá trị hàng tồn kho, hệ thống kế toán chi phí phải phục vụ cho mục đích kiểm soát điều hành, hệ thống kế toán chi phí phải tính toán được chi phí cho riêng từng đối tượng chịu chi phí.
Chức năng thứ nhất là định giá được giá trị hàng tồn kho thì nếu áp dụng nguyên tắc giá gốc của kế toán tài chính thì số chi phí được phân bổ vào giá trị hàng tồn kho không tuân theo mối quan hệ nguyên nhân kết quả. Với việc sử dụng hệ thống kế toán chi phí truyền thống, việc phân bổ chi phí đến từng loại hàng tồn kho sẽ thiếu chính xác. Chức năng thứ hai là kiểm soát điều hành hoạt động, đòi hỏi hệ thống kế toán chi phí phải cung cấp kịp thời thông tin chi phí chính xác từ đó thành quả hoạt động phải được phải hồi nhanh. Điều này thể hiện ở việc phải cung cấp kịp thời thông tin chi phí đến các cấp độ quản lý từ thấp đến cao nhằm kịp thời kiểm soát chi phí, giảm thiểu chi phí không cần thiết.
Tuỳ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của công ty mà phải có tần suất báo cáo phù hợp. Chức năng thứ ba là tính toán được chi phí cho riêng từng đối tượng chịu chi phí, hệ thống kế toán chi phí cần phải ước lượng việc sử dụng nguồn lực dài hạn đối với từng sản phẩm. Tất cả chi phí cần phải được xem xét trong dài hạn theo sự đa dạng hoá của sản phẩm và mức độ phức tạp đầu ra của doanh nghiệp. Theo như Kaplan và Cooper (1998) thì hệ thống kế toán chi phí giản đơn truyền thống không thể đáp ứng được đủ các chức năng trên, đề xuất vận dụng hệ thống kế 7 toán chi phí dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) nhằm làm rõ được các chi phí phát sinh có mối quan hệ với từng hoạt động trong chu trình kinh doanh của doanh nghiệp, làm rõ được các hoạt động nào sẽ tạo doanh thu và sử dụng chi phí của công ty.
Khi các mối quan hệ trên được làm nổi bật, các nhà quản lý công ty sẽ hiểu được chính xác hoạt động nào sẽ tạo ra thành quả hoạt động cho đơn vị. Những thông tin hữu ích được hệ thống ABC cung cấp sẽ hỗ trợ định hướng các nhà quản lý thực hiện hai quyết định phù hợp như là quyết định điều chỉnh tăng giá đối với các sản phẩm tiêu tốn nhiều nguồn lực của công ty nhằm tăng lợi nhuận, bên cạnh đó điều chỉnh giảm giá đối với các sản phẩm tiêu tốn ít nguồn lực của đơn vị nhằm để tăng tính cạnh tranh; hoặc quyết định là các nhà quản lý phải tìm ra cách thức giảm bớt chi phí cho những hoạt động không mang lại hiệu quả cao, cắt giảm các hoạt động không mang lại hiệu quả. Nghiên cứu của Innes và cộng sự: - “Activity – based costing in the U.K’s largest companies : A comparison of 1994 and 1999 survey results”, John Innes*, Falconer Mitchell and Donald Sinclair, 2000. Bài nghiên cứu của Innes et al (2000) tiến hành khảo sát về sự chấp nhận triển khai vận dụng hệ thống kế toán chi phí dựa trên cơ sở hoạt động và xây dựng mô hình ứng dụng, các tác giả nghiên cứu tiến hành khảo sát trên mẫu 1.000 công ty, đơn vị.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thấp các công ty thay đổi để chấp nhận mô hình hệ thống kế toán ABC từ năm 1994 đến năm 1999. Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn tỷ lệ doanh nghiệp chấp nhận vận dụng hệ thống này rơi vào công ty có quy mô lớn và hầu hết hoạt động trong lĩnh vực tài chính. Mặt khác, bài nghiên cứu cũng cho thấy có sự gia tăng tỷ lệ các doanh nghiệp không thành công trong việc áp dụng hệ thống ABC và tỷ lệ các doanh nghiệp từ chối sử dụng, không quan tâm đến việc vận dụng hệ thống này cũng tăng lên. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự mâu thuẫn, vì có 17,5% số người tham khảo sát cho biết là đã triển khai hệ thống kế toán chi phí ước tính dựa trên cơ sở hoạt động, nhưng chỉ một nửa số này là thực 8 sự có áp dụng, còn lại chỉ áp dụng một phần các hoạt động, hoặc chỉ tiến hành nghiên cứu mà chưa thật sự áp dụng.
Trong năm 1994, tỷ lệ người được khảo sát có cam kết vận dụng hệ thống kế toán ABC là 9,7% nhưng đến năm 1999 tỷ lệ này chỉ còn 7,9%, bên cạnh đó cũng có trường hợp một số doanh nghiệp áp dụng đồng thời cả hệ thống kế toán chi phí truyền thống và hệ thống kế toán chi phí ABC. Trong giai đoạn 5 năm, cho thấy có tồn tại xu hướng vận dụng hệ thống ABC, tuy nhiên không có nhiều dấu hiệu khả quan. Tác giả Innes et al (2000) cho rằng nguyên nhân là do vấn đề kỹ thuật quá phức tạp trong quá trình vận dụng kèm theo chi phí bỏ ra cao nên làm hạn chế triển khai vận dụng dẫn đến nhiều công ty từ bỏ và không muốn vận dụng hệ thống ABC. Tác giả cũng đề xuất tiếp tục mở rộng nghiên cứu tỷ lệ vận dụng hệ thống ABC của các công ty trong tương lai.
Bài nghiên cứu vẫn chưa tìm hiểu sâu xa các nhân tố tác động đến tỷ lệ vận dụng hệ thống kế toán ABC và mức ảnh hưởng của chúng. Nghiên cứu của Mushonga : - “The allocation of overheads in the construction industry in Southern Africa: Traditional costing or Activity Based Costing”, Mushonga, 2015. Tác giả Mushonga (2015) cho rằng về mặt học thuật và mặt thực tế hiện nay thì nhiều công ty đang chuyển từ hệ thống kế toán chi phí truyền thống (Tradition costing) sang ủng hộ hệ thống kế toán chi phí dựa trên cơ sở hoạt động (Activity Based Costing) vì lợi ích mà hệ thống mới này mang lại là cung cấp chính xác hơn. Tuy nhiên các tài liệu cũng cho thấy mức áp dụng thấp hoặc từ bỏ không áp dụng hệ thống ABC của các công ty đã từng chấp nhận nó vì một số điểm yếu của hệ thống ABC.
Từ những kết quả mâu thuẫn đó đã thúc đẩy tác giả Mushonga hình thành nên cơ sở của bài nghiên cứu và xác định mục đích nghiên cứu nhằm làm rõ khả năng áp dụng hệ thống ABC cho ngành xây dựng ở Nam Phi, bên cạnh đó kiểm tra xem hệ thống ABC có khả thi hay không trong việc thay thế hệ thống chi phí truyền thống. 9 Về phương pháp nghiên cứu, tác giả Mushonga thực hiện việc khảo sát và thu thập dữ liệu từ hai bảng câu hỏi: một bảng gửi cho các công ty xây dựng và một bảng khác gửi cho các chuyên gia tư vấn. Mẫu những người được chọn gửi bảng câu được lấy từ các công ty nhà thầu xây dựng đã được đăng ký. Tác giả gửi các đường dẫn liên kết chứa bảng câu hỏi khảo sát thông qua địa chỉ email đế những người được hỏi.
Kết quả nghiên cứu đạt được cho thấy những người được hỏi trả lời rằng việc sử dụng kế toán theo hệ thống chi phí truyền thống hệ thống sẽ khiến cho thông tin chi phí dự án bị bóp méo, trong khi đó sử dụng hệ thống ABC tạo ra kết quả thông tin chi phí dự án chính xác hơn trong ngành xây dựng. Tuy nhiên, các phiếu trả lời cũng cho thấy các nhà thầu xây dựng đã không hoàn toàn thông qua việc sử dụng hệ thống ABC mà vẫn sử dụng hệ thống chi phí truyền thống mặc cho việc có sai lệch chi phí dự án. Tác giả Mushonga (2015) cho rằng kết quả nghiên cứu này trái ngược với quan điểm rộng rãi là các hệ thống kế toán chi phí truyền thống không có chỗ đứng trong kế toán quản trị hiện đại, kết quả nghiên cứu này cho thấy hệ thống kế toán chi phí truyền thống vẫn còn phổ biến trong ngành xây dựng ở Nam Phi, và người dùng hệ thống truyền thống nói chung vẫn còn hài lòng với hiệu suất mang lại từ hệ thống này. Các kết quả phát hiện này có ý nghĩa đối với hiện tại, cho rằng hệ thống truyền thống đang gặp vấn đề.
Nghiên cứu cũng đã tiết lộ những lợi ích của hệ thống truyền thống như tính toán chi phí đơn giản, dễ sử dụng và cho phép báo cáo nhanh. Hệ thống truyền thống có thể được cải thiện tốt hơn bởi hệ thống máy tính nhằm giúp người sử dụng có thể cung cấp dữ liệu chi phí đáng tin cậy và báo cáo hiệu quả. Tuy nhiên, tác giả Mushonga (2015) nhận định rằng bài nghiên cứu được thực hiện nhằm tiếp tục kêu gọi những người ủng hộ hệ thống ABC thực hiện vận dụng hệ thống này vì những lợi ích được cung cấp nhiều hơn, chi phí sản phẩm chính xác hơn hệ thống truyền thống. Hạn chế của bài nghiên cứu là vẫn không nêu được những nhân tố gây tác động đến việc vận dụng hệ thống kế toán mà chỉ khảo sát về việc nó có được sử dụng hay không.2 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến vận dụng hệ thống ABC trên thế giới Nghiên cứu của Fawzi Abdalla Abusalama: - “Barrier to Adopting Activity-based Costing Systems (ABC): an Empirical Investigation Using Cluster Analysis”, Fawzi Abdalla Abusalama, 2008.
Nghiên cứu của Fawzi (2008) được thực hiện tại Ireland, 925 công ty đã được lựa chọn để gửi bảng câu hỏi khảo sát trên tổng số 1000 công ty thuộc Top 1000 Business and Finance Irelands (2004). Nghiên cứu cố gắng tìm ra lý do ủng hộ cho việc chấp nhận hệ thống ABC (ABC adopters) của các công ty được khảo sát dựa trên việc xem xét cụm biến liên hợp gồm các nhân tố : Lĩnh vực kinh doanh (Company sector), quy mô công ty (Firm size), tính quốc gia (Nationality), cách thức cạnh tranh (Type of Competition), sự đa dạng của sản phẩm (Product diversity), cấu trúc chi phí (Cost structure), văn hoá doanh nghiệp (Business unit culture).