phần mở đầu, kết luận chung, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm các chƣơng nghiên cứu nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chƣơng 4: Kết luận và kiến nghị. e 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp y tế công lập 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp y tế công lập Điều 2, Nghị định 85/2012/NĐ-CP thì đơn vị sự nghiệp y tế công lập là tổ chức do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nƣớc trong các lĩnh vực chuyên môn y tế nhƣ: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dƣỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dƣợc cổ truyền; kiểm nghiệm dƣợc, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe.
Theo quan điểm hiện nay cho rằng đơn vị sự nghiệp y tế công lập là một bộ phận không thể tách rời của một tổ chức xã hội và y tế, có chức năng chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu sinh xã hội học. Phân loại đơn vị sự nghiệp y tế công lập Theo Điều 3, NĐ 85/2012/NĐ-CP quy định đơn vị sự nghiệp y tế thì đơn vị sự ngiệp y tế đƣợc đăng ký và phân loại theo các nhóm sau đây: - Nhóm 1: đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm đƣợc toàn bộ kinh phí hoạt động thƣờng xuyên và kinh phí đầu tƣ phát triển; - Nhóm 2: đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo đƣợc toàn bộ kinh phí hoạt động thƣờng xuyên. - Nhóm 3: đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thƣờng xuyên; - Nhóm 4: đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn e 13 thu, kinh phí hoạt động thƣờng xuyên theo chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao do NSNN bảo đảm toàn bộ. Việc đăng ký, phân loại các đơn vị sự nghiệp y tế đƣợc ổn định trong thời gian 3 năm, sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp.
Tổng quan về kế toán quản trị 1.1 Định nghĩa kế toán quản trị Theo quan niệm truyền thống, KTQT là một hệ thống thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin cho những ngƣời ra quyết định. Ngƣời sử dụng thông tin kế toán bao gồm nhiều đối tƣợng khác nhau, trong và ngoài doanh nghiệp. Nhóm bên trong là những ngƣời có trách nhiệm trong việc quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Nhóm bên ngoài bao gồm nhà đầu tƣ, chủ nợ, các cơ quan chức năng của nhà nƣớc.
Theo các giáo sƣ đại học South Florida: “Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán cung cấp những thông tin định lƣợng cho các nhà quản trị, mà họ cần để hoạch định và kiểm soát” (Abdel, 2006). Tóm lại, Kế toán quản trị là một hệ thống thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho các nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp để hoạch định, kiểm soát và ra quyết định, nhằm quản lý và sử dụng một cách hiệu quả nguồn lực doanh nghiệp. Qua đó, KTQT giúp gia tăng giá trị khách hàng và giá trị cổ đông.2 Nhiệm vụ của kế toán quản trị Theo Thông tƣ số 53/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tài chính Việt Nam về việc hƣớng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp, Phần I, mục 3; kế toán quản trị có những nhiệm vụ cơ bản sau: e 14 - Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị của đơn vị xác định theo từng thời kỳ. - Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán.
- Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo kế toán quản trị. - Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của Ban lãnh đạo doanh nghiệp.3 Nội dung của kế toán quản trị Theo giáo trình kế toán quản trị của tác giả Phạm Văn Dƣợc (2006) KTQT bao gồm các nội dung chính nhƣ sau: 1.1 Dự toán ngân sách Dự toán ngân sách là những tính toán, dự kiến một cách toàn diện mục tiêu kinh tế, tài chính mà đơn vị cần đạt đƣợc trong kỳ hoạt động, đồng thời chỉ rõ cách thức, biện pháp huy động các nguồn lực để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đó. Dự toán ngân sách là cơ sở để đánh giá thành quả hoạt động của từng bộ phận, từ đó xác định trách nhiệm của từng bộ phận nhằm phục vụ tốt cho quá trình tổ chức và hoạch định. Phân loại dự toán ngân sách: Dự toán là công cụ của nhà quản lý, chính vì thế đòi hỏi nhà quản lý phải am hiểu các loại dự toán để thích ứng với từng nhu cầu riêng lẻ và từng hoàn cảnh cụ thể của từng tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn.
Tùy theo cách thức phân loại sẽ có các loại dự toán ngân sách sau đây - Phân loại theo thời gian: + Dự toán ngân sách ngắn hạn: Dự toán ngân sách ngắn hạn là dự toán đƣợc lập cho kỳ kế hoạch là một năm và đƣợc chia ra từng kỳ ngắn hơn là hàng quý và hàng tháng. Dự toán ngân sách ngắn hạn thƣờng liên quan đến e 15 các hoạt động kinh doanh thƣờng xuyên của tổ chức nhƣ mua hàng, bán hàng, thu tiền, chi tiền, sản xuất. Dự toán ngân sách ngắn hạn đƣợc lập hàng năm trƣớc khi niên độ kế toán kết thúc và đƣợc xem nhƣ là định hƣớng chỉ đạo cho mọi hoạt động của tổ chức trong năm kế hoạch. + Dự toán ngân sách dài hạn: Dự toán ngân sách dài hạn còn đƣợc gọi là dự toán ngân sách vốn, đây là dự toán đƣợc lập liên quan đến tài sản dài hạn, thời gian sử dụng tài sản vào các hoạt động kinh doanh thƣờng hơn một năm.
Dự toán dài hạn thƣờng bao gồm việc dự toán cho các tài sản lớn phục vụ cho hoạt động sản xuất và hệ thống phân phối nhƣ nhà xƣởng, máy móc thiết bị. để đáp ứng yêu cầu chiến lƣợc kinh doanh. Đặc điểm cơ bản của dự toán ngân sách vốn là lợi nhuận dự kiến lớn, mức độ rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài. - Phân loại theo chức năng: + Dự toán hoạt động: Dự toán hoạt động bao gồm các dự toán liên quan đến hoạt động cụ thể của doanh nghiệp.
Nhƣ dự toán tiêu thụ nhằm phán đóan tình hình tiêu thụ của đơn vị trong kỳ dự toán, dự toán sản xuất đƣợc áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất nhằm dự toán sản lƣợng sản xuất đủ cho tiêu thụ từ đó tính dự toán chi phí sản xuất, dự toán mua hàng đƣợc dùng cho các doanh nghiệp thƣơng mại nhằm dự toán khối lƣợng hàng cần thiết phải mua đủ cho tiêu thụ và tồn kho, sau đó lập dự toán chi phí bán hàng và quản lý, dự toán kết quả kinh doanh. + Dự toán tài chính: Dự toán tài chính là các dự toán liên quan đến tiền tệ, vốn đầu tƣ, bảng cân đối kế toán, dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trong đó: dự toán tiền tệ là kế hoạch chi tiêt cho việc thu và chi tiền, dự toán vốn đâu tƣ trình bày dự toán các tài sản dài hạn và vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh ở những năm tiếp theo, dự toán bảng cân đối kế toán, dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là các dự toán tổng hợp số liệu e 16 kinh doanh của doanh nghiệp. - Phân loại theo phƣơng pháp lập + Dự toán ngân sách linh hoạt: Dự toán ngân sách linh hoạt là dự toán cung cấp cho đơn vị khả năng ƣớc tính chi phí và doanh thu tại nhiều mức độ hoạt động khác nhau. Dự toán linh hoạt đƣợc lập theo mối quan hệ với quá trình hoạt động, giúp xác định ngân sách dự kiến tƣơng ứng ở từng mức độ và phạm vi hoạt động khác nhau.
Thông thƣờng dự toán linh hoạt đƣợc lập ở ba mức độ hoạt động cơ bản là: mức độ hoạt động trung bình; mức độ hoạt động khả quan nhất; mức độ bất lợi nhất. Ƣu điểm của dự toán linh hoạt là có thể thích ứng với sự thay đổi của hoạt động kinh doanh, mở rộng phạm vi dự toán, tránh đƣợc việc sửa đổi dự toán một cách phiền phức khi mức độ hoạt động thay đổi. Mặt khác, có thể dùng dự toán để xem xét tình hình thực hiện trong thực tế. + Dự toán ngân sách cô định: Dự toán ngân sách cố định là dự toán tại các số liệu tƣơng ứng với một mức độ hoạt động ấn định trƣớc.
Dự toán ngân sách cố định phù hợp với doanh nghiệp có hoạt động kinh tế ổn định. Dự toán cố định chỉ dựa vào một mức độ hoạt động mà không xét tới mức độ này có thể bị biến động trong kỳ dự toán. Nếu dùng dự toán này để đánh giá thành quả kinh doanh của một doanh nghiệp mà các nghiệp vụ luôn biến động thì khó đánh giá đƣợc tình hình thực hiện dự toán của doanh nghiệp. - Phân loại theo mức độ phân tích: + Dự toán từ gốc: Dự toán từ gốc là khi lập dự toán phải gạt bỏ hết những dự toán số liệu đã tồn tại trong quá khứ và xem các nghiệp vụ kinh doanh nhƣ mới bắt đầu.
Tiến hành xem xét khả năng thu nhập, nhũng khoản chi phí phát sinh và khả năng thực hiện lợi nhuận của doanh nghiệp để lập các báo cáo dự toán. Các báo cáo dự toán mới sẽ không lệ thuộc vào số liệu của báo cáo dự toán cũ. Dự toán từ gốc không chịu hạn chế các mức chi tiêu đã e 17 qua, không có khuôn mẫu vì thế nó đòi hỏi nhà quản lý các cấp phải phát huy tính năng động, tính sáng tạo và căn cứ vào tình hình cụ thể để lập dự toán ngân sách. + Dự toán cuốn chiếu: Dự toán cuốn chiếu còn gọi là dự toán nối mạch.