phần mở đầu và kết luận, nội dung bài khóa luận chia thành 3 phần nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý luận chung về công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành tại công ty Cổ phần thƣơng mại và đầu tƣ xây dựng Hà Trang. Chƣơng 3: Một số ý kiến nhận xét và đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành tại công ty Cổ phần thƣơng mại và đầu tƣ xây dựng Hà Trang. Vì thời gian có hạn nên trong quá trình viết khóa luận, em không tránh khỏi những thiếu sót, em mong thầy cô góp ý để khóa luận đƣợc hoàn thiện hơn.
Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Thịnh Văn Vinh đã giúp em hoàn thành bài khóa luận này. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên : Bùi Thị Bích Thanh – Lớp QT 1103K 11 Trƣờng Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khóa Luận Tốt Nghiệp CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất a.
Khái niệm : Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp phải chi ra có liên quan đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Phân loại chi phí sản xuất * Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế. - Chi phí nguyên vật liệu: Gồm nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ. - Chi phí nhân công: Tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng, thƣởng, phụ cấp của công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên quản lý sản xuất ở đội xây dựng của doanh nghiệp.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: là toàn bộ phải trích khấu hao, trích trƣớc chi phí sửa chữa lớn trong tháng đối với tất cả các TSCĐ có trong doanh nghiệp. - Chi phí dịch vụ mua ngoài là số tiền phải trả về các loại dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài phục vụ cho việc sản xuất nhƣ chi phí thuê máy, tiền nƣớc, tiền điện. - Chi phí khác bằng tiền là chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất ngoài các yếu tố chi phí nói trên nhƣ chi phí bằng tiền mặt, chi phí tiếp khách. * Phân loại chi phí sản xuất xây lắp theo mục đích, công dụng của chi phí.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu của công trình, vật liệu luân chuyển cần thiết để tạo nên sản phẩm xây lắp nhƣ: Xi măng, sắt thép, gạch, cát, đá, sỏi, gỗ… - Chi phí nhân công trực tiếp: Chi phí về tiền lƣơng và các khoản phụ cấp khác, tiền công phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp và phục vụ xây lắp, công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu trong phạm vi mặt bằng thi công. Sinh viên : Bùi Thị Bích Thanh – Lớp QT 1103K 12 Trƣờng Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khóa Luận Tốt Nghiệp - Chi phí máy thi công: Là chi phí khi sử dụng máy thi công phục vụ trực tiếp hoạt động xây lắp công trình gồm: Chi phí khấu hao máy thi công, chi phí sửa chữa lớn, sửa chữa thƣờng xuyên máy thi công, động lực, tiền lƣơng của công nhân điều khiển máy và chi phí khác. - Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí liên quan đến việc tổ chức phục vụ, quản lý thi công của các đội xây lắp ở các công trƣờng xây dựng. *Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất vào các đối tượng chịu chi phí - Chi phí trực tiếp: Là các chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với từng đối tƣợng chịu chi phí (từng loại sản phẩm đƣợc sản xuất, từng công việc đƣợc thực hiện.
Các chi phí này đƣợc kế toán căn cứ trực tiếp vào các chứng từ phản ánh chúng để tập hợp trực tiếp cho từng đối tƣợng liên quan. - Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất liên quan đến nhiều đối tƣợng chịu chi phí, chúng cần đƣợc tiến hành phân bổ cho các đối tƣợng chịu chi phí theo tiêu thức phân bổ thích hợp.2 Giá thành sản phẩm a. Khái niệm: Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp phải chi ra có liên quan đến khối lƣợng công việc, sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ ( bất kể chi phí đó phát sinh ở kỳ nào, có thể là chi phí phát sinh trong kỳ, phát sinh kỳ trƣớc chuyển sang, hoặc phát sinh ở kỳ sau nhƣng đƣợc trích trƣớc vào kỳ này). Trong xây dựng cơ bản, giá thành sản xuất là biểu hiện bằng tiền của hao phí về vật liệu, nhân công, sử dụng máy thi công và các phí tổn khác để hoàn thành khối lƣợng xây lắp.
Phân loại giá thành sản phẩm Xuất phát từ đặc điểm sản phẩm của ngành xây lắp là những công trình có giá trị lớn và thời gian thi công kéo dài mà hình thành nên chỉ tiêu tính gía thành khác nhau. Hiện nay chỉ tiêu tính giá thành sản phẩm xây lắp bao gồm : * Căn cứ vào thời điểm tính giá thành thì giá thành sản phẩm xây lắp đƣợc chia làm ba loại : Sinh viên : Bùi Thị Bích Thanh – Lớp QT 1103K 13 Trƣờng Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khóa Luận Tốt Nghiệp - Giá thành dự toán : Đƣợc xác định theo mức và khung giá để hoàn thành khối lƣợng xây lắp. Mỗi sản phẩm xây lắp đều có giá dự toán riêng và giá này đƣợc sử dụng làm thƣớc đo cho toàn bộ quá trình sản xuất sản phẩm, sản phẩm xây lắp đƣợc xây dựng theo giá dự toán do cấp có thẩm quyền duyệt. Đồng thời, thời gian sử dụng sản phẩm xây lắp rất lâu dài đòi hỏi việc giám sát chất lƣợng theo thiết kế.
Giá dự toán xây lắp trƣớc hết bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung và thu nhập chịu thuế tính trƣớc. Giá dự toán xây lắp sau thuế bao gồm giá trị dự toán xây lắp trƣớc thuế và các khoản thuế giá trị gia tăng đầu ra. Giá thành dự toán = Giá dự toán của công trình - Phần lợi nhuận định mức - Giá thành kế hoạch : Là chỉ tiêu đƣợc xác định dựa trên cơ sở giá thành dự toán gắn với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán - Mức hạ giá thành dự toán Với doanh nghiệp không có giá dự toán thì giá thành đƣợc xác định trên cơ sở giá thành thực tế năm trƣớc và các định mức kỹ thuật của doanh nghiệp.
Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là cơ sở đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá thành của doanh nghiệp. Mức hạ giá thành dự toán dựa theo điều kiện doanh nghiệp có thể khai thác đƣợc nguồn nguyên liệu rẻ. Trong điều kiện đấu thầu thì vị trí của doanh nghiệp thuận lợi cho quá trình thi công và khai thác nguyên vật liệu và nhân công với khả năng hạ giá thành là lớn nhất và sẽ có khả năng thắng thầu lớn nhất. - Giá thành thực tế: Là giá thành đƣợc xác định thực tế theo số liệu hao phí thực tế liên quan đến khối lƣợng xây lắp hoàn thành bao gồm chi phí định mức, vƣợt định mức và các chi phí khác.
Để tiện cho việc theo dõi chặt chẽ các chi phí phát sinh, ngƣời ta còn phân chia thành giá thành công trình, hạng mục công trình hoàn thành. Sinh viên : Bùi Thị Bích Thanh – Lớp QT 1103K 14 Trƣờng Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khóa Luận Tốt Nghiệp * Căn cứ vào phạm vi của chỉ tiêu giá thành gía thành sản phẩm xây lắp lại chia ra làm hai loại : giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ. - Giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp : Là giá thành chỉ bao gồm những chi phí phát sinh liên quan đến việc xây dựng hay lắp đặt sản phẩm xây lắp. Giá thành Chi phí Chi phí Chi phí sản xuất của Chi phí máy sản xuất = NVL + nhân công + + sản phẩm thi công chung trực tiếp trực tiếp xây lắp - Giá thành tiêu thụ ( giá thành toàn bộ ) Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất , tiêu thụ sản phẩm xây dựng.
Giá thành Giá thành Chi phí toàn bộ Chi phí = sản xuất + quản lý + sản phẩm Bán hàng của sản phẩm doanh nghiệp tiêu thụ * Nếu dựa vào phạm vi tính giá thành có thể phân thành : - Giá thành hoàn chỉnh : bao gồm tất cả các chi phí liên quan đến công trình, hạng mục công trình hoàn thành ( chi phí bỏ ra từ lúc khởi công đến khi công trình hoàn thành đƣa bàn giao cho chủ đầu tƣ) - Giá thành không hoàn chỉnh : phản ánh giá thành của một khối lƣợng công việc xây lắp đạt tới điểm dừng kỹ thuật nhất định, cho phép kiểm tra phát sinh kịp thời để điều chỉnh cho thích hợp ở giai đoạn sau khi phát hiện nguyên nhân gây ra tăng giảm chi phí. Ngoài ra trong xây dựng cơ bản còn sử dụng hai chỉ tiêu mà thƣờng đƣợc gọi là giá thành nhƣng thực chất là giá bán. Giá thầu xây lắp : là một loại giá thành dự toán xây lắp do chủ đầu tƣ đƣa ra để các doanh nghiệp căn cứ vào đó tính giá thành của mình ( còn gọi là gía thành dự thầu công tác xây lắp ). Nếu thấy giá thành của mình thấp hơn giá đấu thầu thì sẽ Sinh viên : Bùi Thị Bích Thanh – Lớp QT 1103K 15 Trƣờng Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khóa Luận Tốt Nghiệp tăng giá thầu công tác xây lắp công trình.
Giá đấu thầu công tác xây lắp do chủ đầu tƣ đƣa ra về nguyên tắc chỉ bằng hoặc nhỏ hơn giá thành dự toán. Có nhƣ vậy, chủ đầu tƣ mới tiết kiệm đƣợc vốn đầu tƣ và hạ thấp chi phí về lao động. Giá hợp đồng công tác xây lắp : là loại giá thành dự toán xây lắp ghi trong hợp đồng đƣợc ký kết giữa chủ đầu tƣ và đơn vị xây lắp sau khi thoả thuận giao nhận thầu. Đó cũng là giá thành của doanh nghiệp xây lắp thắng trong cuộc đấu thầu và đƣợc chủ đầu tƣ ký trong hợp đồng giao thầu.