CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1.1 Cơ sở lý thuyết về khả năng trả nợ vay của doanh nghiệp và ảnh hưởng của nợ xấu đến mọi đối tượng trong xã hội 1.1 Khái niệm khả năng trả nợ Để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp, việc làm rõ khái niêm về khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Xét về mối quan hệ tín dụng ngân hàng, “khả năng trả nợ của doanh nghiệp” là việc đánh giá được khách hàng có thực hiện được đúng hạn nghĩa vụ nợ cho bên cấp tín dụng trong toàn bộ thời gian quan hệ tín dụng hoặc trong một khoảng thời gian xác định hay không. Phương pháp xác định khả năng trả nợ của khách hàng thường được dựa trên một tiêu chuẩn do ngân hàng lựa chọn như năng lực tài chính, thiện chí trả nợ, lịch sử thanh toán nợ và tình trạng trả nợ thực tế của khách hàng. Hiện tại ở Việt Nam và trên thế giới chưa thống nhất về khái niệm “ khả năng trả nợ của khách hàng” mà chỉ tập trung đánh giá khách hàng “ không có khả năng trả nợ” (hay “vỡ nợ”, “ mất khả năng trả nợ”).
Điều này rất quan trọng để ngân hàng có thể phân biệt được khách hàng nào có khả năng trả nợ và ngược lại. Do đó, phân loại được khách hàng nào không có khả năng trả nợ thì khách hàng còn lại sẽ là nhóm khách hàng có khả năng trả nợ. Như trong tài liệu Basel Committee on Banking Supervision – 2006, Ủy ban Basel cũng định nghĩa khách hàng “default – không có khả năng trả nợ” là những khách hàng có những dấu hiệu sau: khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ khi đến hạn mà chưa tính đến việc ngân hàng bán tài sản (nếu có) để hoàn trả và khách hàng có các khoản nợ xấu có quá hạn trên 90 ngày. Phù hợp với định nghĩa về “không có khả năng trả nợ” được sử dụng trong tài liệu về Basel, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF – International Monetary Fund) định nghĩa cơ bản một khoản nợ được coi là “nonperforming loan – nợ xấu” khi quá hạn 5 trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc đồng ý trả chậm theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng trả nợ vay sẽ không được thanh toán đầy đủ.
(Comlilation Guide on Financial Soundness Indicatior – 4.85(2004)) Nợ xấu gây ra những ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng tới khả năng hoạt động của ngân hàng, nền kinh tế, doanh nghiệp và mỗi cá nhân của xã hội. Một trong những nguyên nhân gây ra nợ xấu đó là rủi ro tín dụng trong việc đánh giá khả năng trả nợ của từng khách hàng. Hiểu hơn về nợ xấu, để chúng ta biết được sự quan trọng trong nhận biết khả năng trả nợ vay của từng khách hàng là thiết yếu để giảm thiểu rủi ro.2 Vai trò của khả năng trả nợ của khách hàng Phần lớn các ngân hàng trên thế giới đang áp dụng phương pháp đánh giá dựa trên hệ thống xếp hạng nội bộ (IRB) theo tiêu chuẩn Basel: dựa trên các yếu tố định tính và định lượng, từ đó có cơ sở để ước lượng mức vốn tối thiểu đối mặt với rủi ro. Đối với ngân hàng, rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản phát sinh khi bên vay không thực hiện thanh toán nợ bao gồm lãi hoặc nợ gốc khi đến hạn thanh toán, hay còn gọi là tổn thất mất vốn.
Phương pháp đánh giá dựa trên xếp hạng nội bộ (IRB) đưa ra khá niệm tổn thất mất vốn do khách hàng không trả được nợ. Theo quy định của Basel, tổn thất tín dụng của một danh mục tín dụng có thể được phân thành hai loại: Khoản tổn thất dự tính được – EL (Expected Loss) và khoản tổn thất không dự tính được – UL (Unexpected Loss). Trong đó, khái niệm EL (Expected Loss) là mức tổn thất trung bình được dự tính thông qua số liệu thống kê trong quá khứ vì ngân hàng không biết chính xác 100% khách hàng nào là khách hàng xấu và khoản vay nào không thể trả được trong 12 tháng tới. Đối với mỗi khoản vay hay mỗi khách hàng, khoản tổn thất dự tính – EL được xác định như sau: 6 EL=PD*LGD*EAD PD (Probability of Default): Xác suất khách hàng không trả được nợ trong 12 tháng tới LGD (Loss Given Default): Tỷ lệ mất vốn dự kiến EAD (Exposure of Default): Dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ.
Nguyên lý cơ bản theo cách tiếp cận của Basel hướng đến sự kết nối chặt chẽ xếp hạng tín nhiệm khách hàng với rủi ro tính dụng. Xếp hạng khách hàng vay chủ yếu là dự báo nguy cơ vỡ nợ theo ba cấp độ cơ bản: nguy hiểm, cảnh báo, an toàn, tức là dựa vào xác suất không trả được nợ của khách hàng (Probability of Default – PD). Tổng cộng các khoản tổn thất này của từng khách hàng vay vốn trong danh mục tín dụng của ngân hàng là tổn thất tín dụng của toàn bộ danh mục tín dụng. Trên cơ sở đó, ngân hàng sẽ xây dựng chính sách định giá và trích lập dự phòng khác phục tổn thất cho từng khoản vay, từng khách hàng và toàn bộ danh mục cho vay.
Để đảm bảo hệ số an toàn vốn cao, mức độ rủi ro thấp, thì ngân hàng cần thiết phải quản lý danh mục tín dụng, danh mục đầu tư hợp lý. Như vậy, khả năng trả nợ của khách hàng là nhân tố đầu tiên và quan trọng trong việc xác định khoản tín dụng tổn thất dự tính được, các ngân hàng phải có để xác định rủi ro tín dụng và xây dựng mô hình ước lượng mức vốn theo quy định. Thông qua tài liệu hướng dẫn phương pháp quản lý rủi ro tín dụng theo Basel, học viên trình bày tóm tắt mối quan hệ giữa khả năng không trả nợ của khách hàng và rủi ro tín dụng của ngân hàng. Giả định rằng ρ là khả năng khách hàng không trả được nợ tại một thời điểm trong thời hạn cho vay, có thể xác định đối vối từng khách hàng đi vay.
Do đó, ρ có giá trị như sau: 0≤ ρ ≤ 1. 7 Mặt khác, gọi χ là khả năng khách hàng có thể trả đầy đủ nợ tại một thời điểm trong thời hạn cho vay. Tại cùng một thời điểm, người vay hoặc trả đủ số nợ cho ngân hàng hoặc không chứ không có lựa chọn thứ ba. Do đó ta có: ρ + χ =1 Khách hàng không trả nợ không có nghĩa là ngân hàng sẽ mất hết khoản tiền đã cho khách hàng vay mà có thể kỳ vọng một giá trị thu hồi từ khoản cho vay.
Giả định cho trường hợp lãi trả từng kỳ, vốn gốc trả một lần vào cuối kỳ: tỷ lệ thu hồi kỳ vọng của khoản cho vay được tính như sau: B b= Lx(1+i) B : giá trị phần thu hồi kỳ vọng của khoản cho vay b: tỷ lệ thu hồi kỳ vọng của khoản cho vay ( từ các khoản lãi, gốc khách hàng đã thanh toán và từ nguồn tiền thanh lý tài sản đảm bảo). Theo định nghĩa trên ta có: 0≤ b ≤ 1 Do đó giá trị thiệt hại kỳ vọng trong trường hợp khách hàng không trả được nợ là (1-b)x L với (1-b) là tỷ lệ thiệt hại kỳ vọng của khoản cho vay. Rủi ro tính dụng lớn nhất xảy ra khi khách hàng không trả nợ và ngân hàng mất toàn bộ nợ. Nếu gọi ρ* = rủi ro tín dụng với 0 ≤ ρ* ≤ 1, ta có như sau ρ*= (1 - b) x ρ Ta đặt χ* = 1- ρ* với 0≤ χ*≤ 1.
Mối quan hệ giữa khả năng trả nợ của khách hàng và rủi ro tín dụng của khách hàng là tương đối đồng biến. Trong nội dung bài nghiên cứu này không nghiên cứu các yếu tố rủi ro tín dụng của khách hàng (ρ*) mà chỉ tập trung vào việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ và không trả được nợ của khách hàng (ρ) (khả năng không trả một phần hoặc toàn bộ nợ), từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.3 Khái niệm về nợ xấu 1.1 Định nghĩa về nợ xấu và cách phân loại Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn, nhưng ở cấp độ nghiêm trọng hơn, được gọi là nợ xấu. Nợ xấu có thể gây ảnh hưởng nặng nề đến kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, do đó cần được theo dõi và quản lý chặt chẽ. (Nguyễn Đăng Đờn, 2012) Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 tại Điều 6, phân loại nợ theo các nhóm nợ 1, 2, 3, 4, 5 cụ thể như sau: - Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn.
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại trong thời gian trả nợ theo thời hạn cơ cấu lại. - Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ quá hạn 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại. - Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; các khoản nợ đã cơ cấu lại thời gian trả nợ quá hạn theo thời hạn cơ cấu lại. - Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) : Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý; các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn cơ cấu lại.
9 Theo quyết định trên, nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5, vì vậy những doanh nghiệp có các khoản vay quá hạn trên 90 ngày thuộc nhóm khách hàng không có khả năng trả nợ và ngược lại, các khoản nợ vay có thời hạn dưới 90 ngày thuộc nhóm khách hàng có khả năng trả nợ. Một tổ chức tín dụng có tỷ lệ nợ xấu dưới 5% được coi là nằm trong giới hạn cho phép, khi tỷ lệ nợ xấu trên 5% thì tổ chức tín dụng cần xem xét, rà soát lại danh mục đầu tư của mình một cách đầy đủ, chi tiết và thận trọng hơn.