chương 1, tác giả đã trình bày lý do chọn và lý do lựa chọn đề tài. Từ đó định hướng được mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu cần phải hoàn thành. Đồng thời, xác định đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu (PPNC) để giải “ quyết được các vấn đề nhằm hoàn thành mục tiêu nghiên cứu và đóng góp của đề tài. ” 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG CÁ NHÂN 2. Khái niệm tín dụng Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ Latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm). Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa người cho vay và người vay, trong đó người cho vay chuyển giao tài sản cho người vay sử dụng trong thời hạn nhất định theo thỏa thuận, người vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho người cho vay khi đến hạn thanh toán (Hồ Diệu, 2001). Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, tín dụng được định nghĩa là thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Khái niệm tín dụng cá nhân Dựa trên cơ sở định nghĩa tín dụng NH đã được trình bày bên trên và trong phạm “ vi luận văn nghiên cứu này thì đối tượng KH cá nhân được xem là những cá nhân, hộ gia đình kinh doanh cá thể, vì vậy tín dụng cá nhân là hình thức mà NH thương mại đóng vai trò là trung gian chuyển nhượng quyền sử dụng vốn tạm ” thời cho đối tượng KH là cá nhân, hộ gia đình kinh doanh cá thể trong thời gian xác định và có sự hoàn trả gốc lẫn lãi, nguồn vốn vay được KH dùng vào mục đích phục vụ đời sống hay phục vụ nhu cầu gia tăng sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể (Phan Thị Thu Hà, 2013). Phân loại tín dụng cá nhân 2. Căn cứ vào thời hạn Tín dụng ngắn hạn: Là khoản tín dụng NH cấp trong thời hạn 1 năm trở xuống. Mục đích chủ yếu của khoản tín dụng này là bổ sung nguồn vốn thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh của cá nhân hay hộ gia đình kinh doanh cá thể.
8 Tín dụng trung dài hạn: Là khoản tín dụng NH cấp trong thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm. Mục đích chủ yếu của khoản tín dụng này là để mua sắm tài sản cố định, sửa chữa nhà, … Tín dụng dài hạn: Là khoản tín dụng NH cấp trong thời hạn trên 5 năm. Mục đích chủ yếu của khoản tín dụng này thường để mua nhà, sửa chữa nhà, … 2. Căn cứ vào mục đích tín dụng Tín dụng bất động sản: Đây là hình thức phục vụ mua cầu mua nhà đất; xây dựng sữa chữa nhà cửa của KH.
Tín dụng tiêu dùng: Đây là hính thức nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu mua sắm phục vụ việc sinh hoạt hàng ngày của gia đình. Tín dụng sản xuất kinh doanh: Đây là hình thức cho vay nhằm bổ sung vốn “ bị thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh của cá nhân hay hộ gia đình kinh doanh cá thể. Căn cứ vào đảm bảo tín dụng Tín dụng có đảm bảo: Đây là hình thức tín dụng mà KH có tài sản đem cầm cố, thế chấp hoặc tài sản bên thứ ba. Hiện nay, các khoản vay lớn của KHCN đều được áp dụng loại cho vay này.
Tín dụng không có đảm bảo: Đây là hình thức tín dụng mà không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc tài sản bên thứ ba. Hình thức này chủ yếu áp dụng với những KH có thu nhập và công việc ổn định hoặc có thêm thu nhập từ công việc ngoài. Đây được xem là hình thức tín chấp nên giá trị khoản nợ vay không lớn, thời hạn thường là ngắn hạn. Vai trò tín dụng cá nhân trong nền kinh tế 2.
Đối với kinh tế - xã hội 9 Góp phần tạo tính đa dạng, phong phú và năng động phát triển cho các thành phần kinh tế: Đối với KHCN, tín dụng cá nhân được xem là phương thức hỗ trợ to lớn để người dân có thể trang trải các chi phí phát sinh trong cuộc sống. Nhu cầu của KH ngày càng gia tăng chính vì thế các thành phần trong kinh tế ngày càng vận động, đẩy mạnh sản xuất tạo thêm công ăn việc làm, càng ngày tạo ra những khác biệt so với thời kì trước một cách tích cực giúp nâng cao sức mạnh kinh tế đủ sức cạnh tranh trong và ngoài nước. Góp phần ổn định về mặt xã hội: Đối với xã hội tín dụng cá nhân có một tác “ động rất tích cực vì góp phần giúp cho xã hội khai thác triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội , các nguồn vốn huy động nhìn chung được sử dụng hiệu ” quả, trôi chảy và có ích cho xã hội. Chính nhờ dòng chảy của vốn mà kích thích hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng được nâng cao tạo nhiều công ăn việc làm, làm cho xã hội hướng đến mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, người dân tăng thêm thu nhập, giảm trừ tệ nạn, tăng cao trật tự an ninh xã hội.
Đối với ngân hàng Khẳng định vị thế, thương hiệu cho NH: Đối tượng là KHCN nên phạm vi “ rất rộng vì vậy việc phát triển tín dụng cá nhân giúp hình ảnh, uy tín, thương hiệu của NH sẽ được phổ biến rộng khắp. Ngoài tín dụng cá nhân, thì NH còn ” có thể tận dụng đối tượng KHCN trong việc giới thiệu bán chéo các sản phẩm dịch vụ NH khác như: giao dịch thanh toán, chi lương qua tài khoản, thanh toán qua thẻ, tiền gửi tiết kiệm, dịch vụ NH điện tử,. ngoài ra NH còn có khả năng cung cấp gói sản phẩm tài chính cá nhân thỏa mãn nhu cầu KH tạo ra sự cạnh tranh nét riêng biệt của mỗi NH. Góp phần phân tán rủi ro cho hoạt động NH: Đa số chúng ta hay nghĩ rằng NH sẽ ưu tiên cho các doanh nghiệp vay với những số tiền lớn sẽ mang lại lợi nhuận cao cho NH, tuy nhiên với tình hình kinh tế ngày càng cạnh tranh, khó khăn và suy thoái nó ảnh hưởng đến rất nhiều sự tăng trưởng cũng như tình hình 10 tài chính của các doanh nghiệp nó góp phần làm đe dọa đến khả năng thanh toán của các doanh nghiệp tác động đến hiệu quả hoạt động của NH.
Chính vì thế để phân tán rủi ro NH tránh để tất cả trứng vào một rổ, vì KHCN đông, số tiền cho vay ít thì khi KH gặp rủi ro không có khả năng trả nợ thì cũng không ảnh hưởng lớn đến tình hình hoạt động của NH. Đối với KH cá nhân Trong nền kinh tế vào những thời điểm khó khăn không phải tất cả nhu cầu của con người đều được thỏa mãn do hạn chế về năng lực tài chính. Vì vậy tín dụng cá nhân là phương pháp giải quyết được bài toán đó, thay vì phải tích lũy vốn lâu dài rồi mới thực hiện được kế hoạch hay thỏa mãn nhu cầu bản thân thì người tiêu dùng có thể linh hoạt giữa việc thỏa mãn ngay nhu cầu ở hiện tại và hoạch “ định khả năng thanh toán ở tương lai. Có nghĩa là họ sẽ được tiêu dùng ngay hiện tại với vốn vay NH rồi sau đó tiến hành tích lũy và hoàn trả dần cho NH ” trong tương lai.
Vai trò của tín dụng cá nhân có ý nghĩa rất đặc biệt và quan trọng đối với cá nhân ở những tình huống cấp bách như ốm đau, bênh tật, nhu cầu xe cộ, nhà cửa,. vào những thời điểm này vốn vay NH thật sự hiệu quả hơn các nguồn tín dụng đen bên ngoài NH với lãi suất rất cao, đến với tín dụng NH thì KH có thể an tâm sử dụng và trả nợ. LÝ THUYẾT VỀ SỰ LỰA CHỌN DỊCH VỤ CỦA KHÁCH HÀNG 2. Khái niệm về dịch vụ và sự lựa chọn dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến và có nhiều cách định nghĩa.
Theo Zeithaml (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó. Theo quan điểm của Kotler và Armstrong (2015), các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của KH là các nhân tố chính cơ bản quyết định giá trị 11 và sự thỏa mãn của KH, đó là giá trị (chất lượng) sản phẩm dịch vụ, giá trị nhân sự, giá trị hình ảnh. Bên cạnh đó, đặc tính cá nhân của KH là những nhân tố chính ảnh hướng đến quyết định mua sắm của KH. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu về giá trị cảm nhận, thì giá trị cảm nhận chỉ đạo quyết định mua sắm.
Do đó, các thành phần giá trị cảm nhận là các nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của KH. Khái niệm về hành vi khách hàng Nghiên cứu hành vi khách hàng là nhằm giải thích quá trình mua hay không mua một loại hàng hoá nào đó thông qua xu hướng tiêu dùng của khách hàng. Theo Schiffiman (1997), "Hành vi khách hàng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ". Theo Bennet (1988), "Hành vi của khách hàng là những hành vi mà khách hàng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ".1: Hành vi của khách hàng Quá trình ra quyết định mua Quyết định của người mua Nhận thức vấn đề Chọn sản phẩm Tìm kiếm thông tin Chọn công ty Đánh giá Chọn đơn vị phân phối Quyết định Định thời gian Hành vi sau mua Định số lượng Nguồn: Philip Kotler (2001) 12 Tiến trình quyết định mua của khách hàng đã bắt đầu trước khi việc mua thực sự diễn ra và còn kéo dài sau khi mua.
Trong đó “Quyết định chọn mua sản ” phẩm là một quá trình đánh giá hành vi mua dựa trên nhu cầu và thông tin, đánh giá của bản thân người mua về nhóm sản phẩm đó. Trong giai đoạn này, người mua sắp xếp các nhãn hiệu trong nhóm nhãn hiệu đưa vào để lựa chọn theo các thứ bậc và từ đó bắt đầu hình thành ý định mua nhãn hiệu được đánh giá cao nhất. Bình thường, khách hàng sẽ mua nhãn hiệu được ưu tiên nhất” (Micheal, 1992).