Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trình bày lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước Trình bày một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và trong nước làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu của tác giả. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày thiết kế phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu.
Thực hiện các bước nghiên cứu định tính; các bước nghiên cứu định lượng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Thực hiện các bước phân tích và đưa ra kết quả nghiên cứu như: Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha; phân tích nhân tố khám phá (EFA); phân tích hồi quy đa biến; phân tích ANOVA các đặc điểm ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng tại Ngân hàng Việt Nam Thương Tín chi nhánh Hồ Chí Minh. 6 Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Kết luận kết quả nghiên cứu, đề xuất một số hàm ý quản trị, đưa ra những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo của luận văn. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân Theo Quy định về tiền gửi tiết kiệm số số 48/2018/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi”. Về bản chất, đây là một phần thu nhập của cá nhân chưa được sử dụng tới. Họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích lũy tiền một cách an toàn và hưởng lãi suất theo quy định.
Tiền gửi tiết kiệm là một dạng đặc biệt của tích lũy tiền tệ trong tiêu dùng cá nhân. Hình thức phổ biến của loại tiền gửi này là tiết kiệm có sổ, người gửi tiền được ngân hàng cấp cho một quyển sổ dùng để theo dõi tiền gửi vào và rút ra, đồng thời quyển sổ này cũng chứng nhận số tiền đã gửi. Quyển sổ này có thể đem cầm cố hoặc thế chấp vay vốn. Theo đó, điều kiện thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm được ban hành cho ba đối tượng sau: Cá nhân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ Luật dân sự, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm.
- Cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi nhưng có tài sản riêng đủ để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ Luật dân sự thì được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. - Đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật thì chỉ được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm thông qua người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật. Phân loại tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại Phân loại theo kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2004). Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm nhờ ngân hàng cất trữ, bảo quản hộ tài sản, tích lũy tài sản nên khách hàng thường phải trả lệ phí cho ngân hàng, nhưng do cạnh tranh và các ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để hoạt động nên khách hàng không phải trả phí, mà ngân hàng trả lãi cho khách hàng với lãi suất khuyến khích (thấp).
Do vậy, loại nguồn này chỉ được sử dụng một phần, phần lớn còn lại được sử dụng để đảm bảo thanh toán cho khách hàng. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2004). Với tiết kiệm có kỳ hạn, khách hàng gửi tiền một lần và rút vốn gửi ban đầu, tiền lãi trả vào đúng thời điểm đáo hạn của sổ tiết kiệm. Mục đích của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khách hàng muốn đầu tư để hưởng lãi chứ không phải để cất trữ hay thanh toán.
Chính vì vậy lãi suất của nguồn này tương đối cao, nhưng lại khá ổn định. Các hình thức thường thấy là phiếu tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, tiết kiệm nhà ở… Phân loại theo loại tiền Tiền gửi tiết kiệm bằng Việt Nam đồng (VNĐ): Ngân hàng huy động vốn bằng VNĐ thông qua tất cả các hình thức huy động vốn khác nhau với các mục đích sử dụng khác nhau. Trong nguồn vốn ngân hàng huy động được thì nguồn vốn huy động bằng VNĐ chiếm tỷ trọng cao, đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn của ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ: Ngoài huy động vốn bằng VNĐ, ngân hàng cũng tiến hành huy động vốn bằng ngoại tệ.
Số vốn huy động bằng ngoại tệ quy ra VNĐ cũng chiếm tỷ lệ lớn trong hoạt động của ngân hàng. Mục đích huy động vốn bằng ngoại tệ của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế cũng như các hoạt động kinh doanh ngoại tệ của khách hàng cũng như ngân hàng. Vốn huy động bằng ngoại tệ của ngân hàng chủ yếu là USD hoặc EUR. Vai trò, ý nghĩa của tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân là một trong những hoạt động nghiệp vụ chủ yếu và quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại nhằm mục đích tạo nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động của mình như: cấp tín dụng, thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.
Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân có vai trò to lớn đối với bản thân ngân hàng, đối với khách hàng và cả đối với nền kinh tế (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Đối với ngân hàng thương mại Huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân là một bộ phận của hoạt động huy động vốn, là nghiệp vụ quan trọng không thể thiếu của ngân hàng thương mại. Đây là nghiệp vụ tạo vốn chính cho hầu hết các hoạt động của ngân hàng. Khi thành lập ngân hàng đã có vốn ban đầu, nhưng số vốn ban đầu này thông thường ở dạng cơ sở vật chất như trụ sở, trang thiết bị phục vụ hoạt động của ngân hàng…Vì vậy để đảm bảo chức năng cung cấp vốn cho nền kinh tế, ngân hàng phải thu hút vốn từ bên ngoài.
Càng thu hút nhiều vốn thì Ngân hàng thương mại dễ dàng đẩy mạnh nghiệp vụ cho vay, mở rộng thêm các hoạt động sinh lợi khác, khả năng đạt lợi nhuận cao hơn. Vốn huy động thông qua huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn huy động của ngân hàng, chiếm tỷ lệ gần 70% tổng vốn huy động. Nguồn vốn này là nguồn tài chính cơ bản cho hoạt động của ngân hàng như: hoạt động cho vay, đầu tư, các hoạt động dịch vụ khác. tạo ra lợi nhuận, từ đó đảm bảo cho sự phát triển vững mạnh của ngân hàng.
Vốn huy động từ khách hàng cá nhân được xem là tiền đề của lợi nhuận và sự phát triển của ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân cũng là thước đo quan trọng về sự chấp nhận của công chúng đối với ngân hàng. Nếu ngân hàng thu hút được nhiều tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân chứng tỏ uy tín của ngân hàng cao, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng được khách hàng chấp nhận, hình ảnh của ngân hàng được nhiều khách hàng biết đến (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Khối lượng tiền gửi là một trong những thước đo quan trọng để ban lãnh đạo ngân hàng có thể đánh giá được năng lực của đội ngũ nhân viên của mình, từ đó đưa ra các biện pháp để nâng cao năng suất lao động trong quá trình huy động tiền gửi.
10 Như vậy, huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân là một trong những hoạt động rất quan trọng, ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân là cơ sở để thực hiện, duy trì và phát triển các hoạt động của ngân hàng. Đối với khách hàng Nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân cung cấp cho khách hàng một kênh đầu tư truyền thống. Thông qua hoạt động này khách hàng được hưởng lợi nhuận từ lãi tiền gửi từ đó tạo điều kiện cho họ tăng khả năng tiêu dùng trong tương lai.
Khi gửi tiền, ngân hàng còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất trữ, tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. Ngoài ra, việc gửi tiền vào ngân hàng còn giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận các dịch vụ liên quan đến hoạt động tài chính như: dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ tín dụng khi họ cần vốn cho sản xuất hoặc cho tiêu dùng, dịch vụ ủy thác, thu hộ, chi hộ giúp họ tiết kiệm thời gian, chi phí vận chuyển, nhân lực và vật lực. Đối với nền kinh tế Thông qua nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân mà Ngân hàng thương mại đã thu hút, tập hợp lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội, đem lượng tiền này vào lưu thông phục vụ cho các hoạt động kinh tế của nước ta.