Chương 1 giới thiệu khái quát về nghiên cứu. Chương 2 tác giả trình bày các khái niệm và lý thuyết có liên quan đến cho vay cá nhân, lý thuyết hành vi khách hàng. Các lý thuyết này sẽ làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu dự kiến tại ngân hàng PG Bank.1 Lý thuyết về hành vi củ hách hàng 2.1 M t ố u n đi m về hành vi hách hàng Có khá nhiều quan điểm về hành vi của khách hàng, tác giả xin giới thiệu quan điểm về Marketing của Philip Kotler, Gary Armstrong và quan điểm về tâm lý cùa Ajzen. Theo Philip Kotler, Gary Armstrong (2011), các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của khách hàng: Văn hóa, xã hội (gia đình, vai trò và địa vị trong xã hội, ), cá nhân (tuổi, nghề nghiệp, thu nhập, tính cách, ), tâm lý (nhận thực, học hỏi, niềm tin và quan điểm, ).
Lý thuyết hành động căn nguyên (TRA) được phát triển bởi Fishbein và Ajzen (1975). Theo mô hình TRA thì hành vi cụ thể của một người được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó. Ý định này được xem là nhân tố quan trọng, quyết định ngay lập tức hành vi tương ứng. Còn ý định hành vi bị tác động bởi Thái độ và Quy chuẩn chủ quan.
- Thái độ: Cảm nhận tích cực hay tiêu cực về việc thực hiện một hành vi và có thể được quyết định bởi sự dự báo về kết quả của những hành động của họ. Thái độ của một người đối với hành vi được quyết định bởi niềm tin và sự đánh giá. Niềm tin được định nghĩa là khả năng mang tính chủ quan của cá nhân rằng việc thực hiện hành vi sẽ dẫn đến kết quả. - Chuẩn chủ quan: Nhận thức của một người rằng hầu hết những người xung quanh cho rằng họ nên/không nên thực hiện hành động đó.
Chuẩn chủ quan của một người được quyết định bởi niềm tin quy chuẩn và động cơ thực hiện.2 Mô hình hành vi mu hàng củ Philip Kotler Hình 2.1 Mô hình hành vi của khách hàng theo Philip Kotler, Gary Armstrong (2011) như sau: (1) Nhận thức nhu cầu; (2) Tìm kiếm thông tin; (3) Đánh giá các lựa chọn; (4) Quyết định mua; (5) Hành vi sau khi mua Bước 1 - Nhận thức nhu c u Quá trình mua được bắt đầu bằng việc xác lập khi khách hàng xác nhận nhu cầu. Nhu cầu này có thể xuất phát từ chính các nhân tố kích thích bên trong (Ví dụ: khi con người đói hay khát cần thỏa mãn việc ăn hay uống) hay bên ngoài khách hàng (Ví dụ: Một mẩu quảng cáo xe ô tô hay một lời khuyên của một người quen khiến người này suy nghĩ về việc mua một chiếc xe mới). Bước 2 - Tìm iếm thông tin Người tiêu dùng hứng thú về sản phẩm, dịch vụ sẽ khích thích họ tìm kiếm thêm thông tin để củng cố niềm tin cho sản phẩm đó. Một người tiêu dùng quan tâm có thể có hoặc không tìm kiếm thêm thông tin.
Nếu dữ liệu thông tin của người tiêu dùng đầy đủ và một sản phẩm vừa ý thật gần trong tầm tay, người tiêu dùng có khả năng mua nó sau đó. Nếu không người tiêu dùng có thể ghi nhớ hoặc tiến hành tìm kiếm thêm thông tin liên quan đến nhu cầu của mình. Bước 3 - Đánh giá lự chọn phương án - Thông qua hàng loạt tiêu chí đánh giá, người tiêu dùng sẽ có cách đánh giá khác nhau đến từng thương hiệu đã lựa chọn phụ thuộc vào quan điểm cá nhân và tình huống mua sắm cụ thể. Một số người tiêu dùng sử dụng nhiều phép tính số học và tư duy logic.
Một số người tiêu dùng khác thì ít hoặc không có đánh giá, thay vào đó họ Luan van 9 mua sắm dựa vào trực giác và bốc đồng. Đôi khi người tiêu dùng tự đưa ra quyết định của chính mình, đôi khi họ lấy ý kiến từ bạn b , từ các đánh giá trực tuyến, hoặc nhân viên bán hàng tư vấn để mua sắm.1 Mô hình hành vi của khách hàng theo Philip Kotler, Gary Armstrong Hình 2.1 Mô hình hành vi của khách hàng theo Philip Kotler, Gary Armstrong Bước - uyết định mu Luan van 10 Trong giai đoạn đánh giá, người tiêu dùng xếp hàng đánh giá cho ý định mua sắm với những thương hiệu. Nói chung, quyết định mua sắm của người tiêu dùng sẽ là các thương hiệu ưa thích nhất, nhưng có hai nhân tố có thể ảnh hưởng trong giai đoạn từ ý định mua đến quyết định mua hàng. (1) Nhân tố đầu tiên là ý kiến của những người khác.
Nếu một người thân thiết của khách hàng nghĩ rằng khách hàng nên mua xe có giá thấp nhất, điều này có thể làm khách hàng giảm đi mức độ ưu tiên khi chọn chiếc xe đắt tiền hơn. (2) Nhân tố thứ hai là tình huống bất ngờ. Người tiêu dùng có thể hình thành một ý định mua hàng dựa trên các yếu tố như thu nhập dự kiến, mức giá dự kiến, và lợi ích sản phẩm mong muốn. Tuy nhiên, sự kiện bất ngờ có thể thay đổi ý định mua hàng.
Ví dụ, một đối thủ cạnh tranh gần có thể giảm giá của nó, hoặc có một người bạn cho biết ý kiến thất vọng về chiếc xe mà người mua ưa thích. Do đó, sở thích và thậm chí ý định mua không phải lúc nào dẫn đến quyết định mua chính thức. Bước 5 - Hành vi sau khi mua Công việc của người làm marketing không kết thúc khi sản phẩm được mua. Sau khi mua sản phẩm, người tiêu dùng hài lòng hoặc không hài lòng và thể hiện bằng các hành vi sau khi mua hàng.
Điều gì quyết định người mua hài lòng hoặc không hài lòng với việc mua sắm? Câu trả lời nằm trong mối quan hệ giữa các k vọng của người tiêu dùng và kết quả mang lại của sản phẩm, dịch vụ.3 Mô hình hành vi dự định (TPB - Theory of Planned Behaviour) Theo Ajzen (1985) đã mở rộng mô hình hành động hợp lý (TRA) bằng cách đưa thêm các điều kiện khác vào mô hình đó là xét đến sự kiểm soát hành vi cảm nhận nhằm phản ánh nhận thức của người sử dụng về các biến bên trong và bên ngoài đối với hành vi. Trong mô hình này, Fishbein và Ajzen cho rằng ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và sự kiểm soát cảm nhận đối với hành vi. Thái độ đại diện cho niềm tin tích cực hay tiêu cực của con người và sự đánh giá về hành vi của mình. Ngược lại, thái độ được hình thành từ niềm tin thể hiện ra bên ngoài về kết Luan van 11 quả cụ thể và sự đánh giá các kết quả đó.
Chuẩn mực chủ quan là nhận thức của con người về áp lực chung của xã hội để thực hiện hay không thực hiện hành vi và ngược lại nó được quyết định bởi niềm tin chuẩn mực của con người. Cuối cùng, sự kiểm soát hành vi cảm nhận cho biết nhận thức của con người về việc thể hiện hay không thể hiện hành vi khi bị kiểm soát. Con người không có khả năng hình thành ý định mạnh mẽ để thực hiện hành vi nếu họ tin rằng họ không có nguồn lực hay cơ hội cho dù họ có thái độ tích cực.2 Mô hình hành vi dự định (TPB) Nguồn: Ajzen, 1991 2.2 Cơ ở lý thuyết về cho v y cá nhân 2.1 Khái niệm cho v y cá nhân Khách hàng cá nhân là tất cả các cá nhân có năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Luan van 12 Vậy nên cho vay khách hàng cá nhân là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng là cá nhân và hộ gia đình, trong đó ngân hàng chuyển giao cho khách hàng một khoản tiền nhằm phục vụ mục đích sử dụng của khách hàng với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng trong một thời gian nhất định Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng (Luật các tổ chức tín dụng, 2010).2 Đặc đi m hách hàng cá nhân đi v y Theo Nguyễn Minh Kiều (2009) [4] đối tượng cho vay khách hàng cá nhân thường là quy mô khoản vay nhỏ, số lượng khách hàng nhiều và mang lại lợi nhuận cao hơn so với tín dụng doanh nghiệp, giá trị của các khoản tín dụng cá nhân không lớn. Đó là do giá trị hàng hóa, dịch vụ hay vốn cho các đầu tư mang tính chất nhỏ lẻ (hộ kinh doanh) không cao. Mặc dù quy mô các khoản tín dụng này của ngân hàng là nhỏ những tổng quy mô lại khá lớn, lãi suất cho vay luôn cao hơn so với lãi suất cho vay doanh nghiệp nên thông thường lợi nhuận mang lại từ hoạt động này khá cao. Có chi phí lớn nhất trong danh mục tín dụng của ngân hàng: Quy mô của mỗi khoản tín dụng thường là nhỏ thậm chí đối với các khoản tín dụng tín chấp với giá trị nhỏ, không đáng kể nhưng số lượng các khoản vay lại rất lớn.
Hơn nữa, việc cập nhật về các thông tin cá nhân lại khó có thể được thực hiện một cách đầy đủ và chính xác. Ngân hàng phải xử lý rất nhiều bước trong suốt quá trình cấp tín dụng từ lúc tiếp cận khách hàng, tiếp nhận hồ sơ, thẩm định các nội dung chính sách liên quan của Ngân hàng về khách hàng, giải ngân khoản tín dụng cho đến lúc trả tất toán khoản tín dụng này [4]. Luan van 13 Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao và không đầy đủ: Do thói quen thanh toán và nhận bằng tiền mặt trong các giao dịch cá nhân vẫn còn khá phổ biến nên việc khách hàng cá nhân kê khai ít hơn hoặc nhiều hơn so với thực tế hay việc giả mạo, kê khai khống các nguồn thu nhập trong hồ sơ vay vốn là một thực trạng khá phổ biến tại các ngân hàng thương mại [4]. Nhu cầu vay của khách hàng cá nhân thường phụ thuộc vào chu k kinh tế, nhu cầu này tăng lên trong thời k kinh tế hưng thịnh và giảm khi chu k kinh tế suy thoái.