chương 1: Người nghiên cứu đã khái quát nội dung, ý nghĩa, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu toàn luận văn. Bên cạnh đó, người nghiên cứu đã liệt kê và phân tích sơ bộ các công trình nghiên cứu liên quan nhằm khẳng định chưa có nghiên cứu nào được thực hiện với nội dung như nghiên cứu hiên tại của tác giả. Quy trình nghiên cứu cũng đã hệ thống hóa được toàn bộ các nội dung mà các chương tiếp theo sẽ trình bày. 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại 2. Định nghĩa về công cụ tài chính IAS 32 “Công cụ tài chính: Trình bày ” định nghĩa: “Công cụ tài chính là bất cứ hợp đồng nào mang lại tài sản tài chính cho một doanh nghiệp và nợ phải trả tài chính hay công cụ vốn cho doanh nghiệp khác. Các hợp đồng hàng hóa cơ sở mà đem lại cho một bên quyền thanh toán một lượng tiền hay một vài công cụ tài chính khác sẽ được tính như các công cụ tài chính”. Trong định nghĩa này, các khái niệm quan trọng liên quan đến công cụ tài chính là tài sản tài chính, nợ tài chính và công cụ vốn chủ sở hữu.
Theo IAS 32, tài sản tài chính bao gồm: - Tiền; - Công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị khác, như đầu tư vào cổ phiếu của đơn vị khác; - Quyền theo hợp đồng nhận tiền hay tài sản tài chính khác (như các khoản cho vay, phải thu, đầu tư vào công cụ nợ của đơn vị khác, .), hoặc trao đổi tài sản tài chính hay nợ phải trả tài chính với đơn vị khác trong điều kiện có lợi (như các công cụ tài chính phái sinh); - Một số hợp đồng được thanh toán bằng công cụ vốn của chính đơn vị. Theo IAS 32, nợ phải trả tài chính bao gồm: - Các nghĩa vụ theo hợp đồng giao tiền (Nợ phải trả, cho vay, phát hành công cụ nợ). 11 - Các nghĩa vụ theo hợp đồng chuyển giao một tài sản tài chính khác, hoặc trao đổi tài sản tài chính hay nợ tài chính với đơn vị khác theo điều kiện bất lợi. - Một số hợp đồng được thanh toán bằng công cụ vốn của chính đơn vị.
Công cụ vốn chủ sở hữu là hợp đồng cho phép hưởng lợi ích còn lại trong các tài sản của một đơn vị sau khi trừ hết nợ phải trả của đơn vị đó. Ngoài ra, xét về nguồn gốc của hợp đồng, công cụ tài chính bao gồm các công cụ tài chính cơ sở, như các khoản phải thu, phải trả, trái phiếu, cổ phiếu… và các công cụ tài chính phái sinh (còn gọi là là công cụ phái sinh), như các giao dịch hoán đổi, kỳ hạn, tương lai và quyền chọn. Trong đó, các công cụ tài chính phái sinh có nguồn gốc là các hợp đồng cơ sở. Sở dĩ gọi các công cụ này là công cụ phái sinh (derivatives) vì các luồng tiền của chúng bắt nguồn (derive) từ sự thay đổi đại lượng cơ sở (underlying), như tỷ giá hối đoái, lãi suất, giá hàng hoá, xếp hạng tín dụng,.
Theo IAS 39 - Công cụ tài chính – Ghi nhận và đo lường và IFRS 9 - Công cụ tài chính thì công cụ tài chính phái sinh là công cụ tài chính đáp ứng đồng thời ba điều kiện sau: - Có giá trị thay đổi theo các đối tượng cơ sở cụ thể như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa, chỉ số giá, xếp hạng tín nhiệm, … - Không đòi hỏi hoặc đòi hỏi giá trị thuần đầu tư ban đầu rất thấp. - Được thanh toán trong tương lai. Các công cụ phái sinh căn bản như các hợp đồng kỳ hạn (forward), hoán đổi (swap), quyền chọn (option) và tương lai (future). Như vậy với mỗi loại phái sinh căn bản được kết hợp với nhau cũng như gắn với các đối tượng cơ sở khác nhau tạo nên thị trường các công cụ phái sinh hết sức phong phú và phức tạp.
Hơn nữa, căn cứ vào tính phức tạp của hợp đồng, công cụ tài chính bao gồm các công cụ tài chính đơn lẻ và công cụ tài chính phức hợp/hợp thể (compound/hybrid instruments). Trong đó, các công cụ tài chính phức hợp 12 (compound instruments) thường là các hợp đồng vừa mang đặc điểm của công cụ nợ vừa mang đặc điểm của công cụ vốn, chẳng hạn trái phiếu chuyển đổi. Còn công cụ hợp thể (hybrid instrument) là công cụ tài chính bao gồm một hợp đồng cơ sở và công cụ tài chính phái sinh gắn kèm (được gọi là công cụ phái sinh chìm - Embedded derivative), chẳng hạn như hợp đồng cho vay/gửi tiền bằng đồng Việt Nam được đảm bảo bằng ngoại tệ hay vàng,. Tóm lại, công cụ tài chính là các hợp đồng, trong đó các đối tác cùng thỏa thuận trực tiếp hoặc được quy định chung bởi người phát hành về phương thức trao đổi các luồng tiền hay công cụ tài chính khác trong tương lai.
Cách thức tính toán và trao đổi các luồng tiền hay công cụ tài chính thể hiện mối quan hệ tài chính giữa các bên tham gia hợp đồng và là cơ sở để quyết định bản chất của công cụ tài chính. Giá trị của công cụ tài chính phụ thuộc vào cam kết thanh toán của người phát hành, tính thanh khoản cũng như các yếu tố thị trường. Công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại Với chức năng tạo tiền, chức năng trung gian và chức năng kinh doanh, hoạt động của các ngân hàng hết sức đa dạng, phức tạp và chịu sự điều hành chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước. Trước hết, như mọi doanh nghiệp khác, nguồn lực đầu tiên của ngân hàng được huy động từ chủ sở hữu góp vốn.
Tuy nhiên, so với các doanh nghiêp sản xuất kinh doanh, nguồn vốn chủ sở hữu của ngân chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn (từ 5% đến 10% tổng nguồn vốn của ngân hàng). Như vậy, thông qua chức năng trung gian tín dụng, nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng được huy động từ các tác nhân khác nhau trong nền kinh tế. Hay nói cách khác, hoạt động tín dụng huy động vốn mang lại nguồn vốn chủ yếu cho ngân hàng, đó là tiền gửi của khách hàng, tiền gửi tiết kiệm của khách hàng và phát hành giấy tờ có giá. Ngược lại, hoạt động tín dụng ngân hàng được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm cung cấp vốn cho các đối tác có nhu cầu vốn dùng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, như cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu giấy tờ có giá, bao thanh toán, … 13 Bên cạnh đó, thị trường vốn ngày càng phát triển, tạo thêm kênh đầu tư cho các ngân hàng thông qua các hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán.
Ngoài ra, vừa để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của các khách hàng xuất, nhập khẩu và tìm kiếm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua kinh doanh chênh lệch tỷ giá khiến cho một phần nguồn lực huy động được các ngân hàng tham gia vào thị trường ngoại hối. Cuối cùng, thị trường các công cụ tài chính phái sinh trên thế giới trong vài thập kỷ qua có những bước phát triển mạnh cũng tạo cơ hội cho các ngân hàng tham gia vào thị trường này với các mục đích khác nhau, như kinh doanh và phòng ngừa rủi ro. Như vậy cho thấy, hầu hết các hoạt động của ngân hàng đều liên quan đến việc tạo lập và sử dụng các công cụ tài chính. Các hoạt động này cũng như các công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại được tóm tắt trong Bảng 2.1- Các hoạt động ngân hàng và các công cụ tài chính.1: Công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại Đối tượng kế Hoạt động ngân hàng Công cụ tài chính toán Cổ phiếu/vốn góp của chủ sở hữu Tiền gửi khách hàng Nợ phải trả tài Huy động vốn Tiền gửi tiết kiệm chính Các công cụ nợ do ngân hàng phát hành Công cụ phức hợp do ngân hàng phát hành Tín dụng ngân hàng Cho vay và ứng trước cho khách hàng Tài sản tài chính Chứng khoán kinh doanh Đầu tư, kinh doanh Chứng khoán đầu tư Tài sản tài chính chứng khoán Kinh doanh sản phẩm Các công cụ phái sinh tiền tệ Tài sản tài chính phái sinh và hoạt động Các công cụ phái sinh lãi suất – Nợ phải trả tài phòng ngừa rủi ro Các công cụ phái sinh tín dụng chính 14 Như vậy, ngoài tiền mặt và tiền gửi của ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nước và tại các tổ chức tín dụng khác thì các công cụ tài chính chủ yếu của ngân hàng bao gồm: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả tài chính: Hoạt động huy động vốn tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng qua phát hành các công cụ tài chính là công cụ vốn (như cổ phiếu), công cụ nợ (phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi), tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm của khách hàng,.
Trong đó, các công cụ vốn (như cổ phiếu hay vốn góp của chủ sở hữu) do ngân hàng phát hành tạo nên nguồn vốn góp của chủ sở hữu vào ngân hàng. Tiền gửi khách hàng bao gồm tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán và tiền tiết kiệm không kỳ hạn), tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được ngân hàng huy động thường xuyên, nên còn được gọi là nguồn vốn huy động vốn thường xuyên. Các công cụ nợ do ngân hàng phát hành như trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và tiền vay của Ngân hàng Nhà nước hay các tổ chức tín dụng khác. Nguồn vốn này được ngân hàng huy động theo đợt khi có nhu cầu và đòi hỏi có điều kiện (như được cấp phép của Ngân hàng Nhà nước) nên gọi là nguồn vốn huy động không thường xuyên.
Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu khác nhau, ngân hàng còn huy động vốn thông qua phát hành các công cụ phức hợp, như trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu gắn kèm chứng quyền. Với các công cụ này, ngoài việc ngân hàng trả cho bên nắm giữ một khoản tiền xác định tương tự các công cụ nợ thông thường thì người sở hữu các công cụ tài chính phức hợp này còn được phép chuyển đổi thành công cụ vốn của ngân hàng hay quyền mua cổ phiếu của ngân hàng. Tài sản tài chính từ hoạt động tín dụng ngân hàng Hoạt động tín dụng ngân hàng là hoạt động quan trọng đối với ngân hàng.