chương 1, tôi đã nêu lên những lý do để lựa chọn đề tài, đưa ra các mục tiêu nghiên cứu khoảng trống của các nghiên cứu trước từ đó làm cơ sở cho nghiên cứu lần này. Trên cơ sở đó xác định phạm vi cũng như đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của đề tài giúp cho các ban lãnh đạo các ngân hàng và những nhà hoạch định chính sách luôn có những quyết định đúng trong quá trình hoạt động ngân hàng, góp phần làm cho hệ thống ngân hàng ngày càng hiệu quả, cuối cùng là kết cấu của luận văn trong đó giới thiệu những nội dung chính của chương. Nội dung của chương này là tiền đề để thực hiện nghiên cứu ở những nội dung chương 2. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Khái niệm tỷ lệ an toàn vốn: Tỷ lệ vốn tối thiểu là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng. Nó được tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng. Theo quan điểm của Aspal, P. (2014), hệ số an toàn vốn (CAR) được coi là một trong những chỉ tiêu về sức khỏe tài chính của các ngân hàng và cực kỳ hữu ích trong việc ngăn chặn các ngân hàng khỏi bị phá sản.
Hệ số CAR cao được coi là một biện pháp tự vệ, bảo vệ các bên liên quan và duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế. Đây là một chỉ tiêu phản ánh khả năng chịu đựng tổn thất bất ngờ phát sinh trong tương lai của một NHTM. Theo quan điểm của Berger et al, (1995), hệ số CAR còn gọi là tỷ lệ vốn trên tài sản có rủi ro quy đổi, tỷ lệ này thể hiện mối tương quan giữa vốn của ngân hàng với các rủi ro có thể xảy ra. Tỷ lệ an toàn vốn được tính bằng phần trăm vốn tự có của ngân hàng chia cho tổng giá trị tài sản có rủi ro.
Theo quan điểm của Akerlof và cộng sự (1990), hệ số CAR là tỷ số hay tỷ lệ thể hiện khả năng thanh toán các khoản nợ của ngân hàng cũng như những rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt như là tín dụng hay rủi ro vận hành. Hệ số CAR cũng giống như các tỷ lệ khác được tính trên mối tương quan của các tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu. Không giống như các loại tỷ lệ thông thường khác, hệ số CAR phân biệt tài sản có thể có các mức rủi ro khác nhau. Theo quan điểm của Nguyễn Đăng Dờn (2012), hệ số CAR là tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản có rủi ro quy đổi, còn được gọi là hệ số Cooke.
Đây là chỉ tiêu rất quan trọng để phản ánh năng lực tài chính của các NHTM, cũng như đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động tín dụng của các NHTM. Như vậy, hệ số CAR là một thước đo về vốn của ngân hàng đối với tổng tài sản có rủi ro quy đổi, biểu thị sức mạnh tài chính của ngân hàng. Hệ số này thường được 10 dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu. Bằng hệ số này có thể xác định được khả năng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác nhau như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành của các NHTM.
Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo được hệ số này tức là đã tự tạo ra một tấm đệm chống lại những cứu sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi tiền. Mặt khác, hệ số an toàn vốn có ý nghĩa tương tự như tỷ lệ đòn bẩy, giúp xác định khả năng đáp ứng nghĩa vụ của ngân hàng, khả năng tự vệ từ vốn tự có và đánh giá khả năng thích ứng các loại rủi ro của ngân hàng. Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước thường quy định hệ số CAR để bảo vệ người gửi tiền, người cho vay và giúp đảm bảo an toàn hệ thống tài chính quốc gia. Qúa trình ra đời của Hiệp ước Basel về tỷ lệ an toàn vốn Theo ủy ban Basel về giám sát các nghiệp vụ ngân hàng bao gồm các chuyên gia giám sát các hoạt động ngân hàng được thành lập vào những năm 1974 bởi Tổng đốc Ngân hàng Trung ương từ 10 nước gọi tắt là G7 , bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tiền tệ quốc tế và thị trường tài chính và ngân hàng, trong đó phải kể đến sự sụp đổ của các ngân hàng ở Tây Đức.
Hiện nay, thành viên của ủy ban Basel đã được mở rộng số lượng với sự tham gia của nhiều quóc gia hơn để tăng cường cơ chế giám sát. Cơ cấu Ủy ban: Ủy ban Basel có Hội đồng thư ký và 25 nhóm kỹ thuật. Ngoài ra, còn có một số bộ phận hỗ trợ. Hội đồng thư ký được thành lập theo đề xuất của ủy ban Basel, bao gồm 15 thành viên những nhà giám sát tình hình hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp và đặc biệt từ chính các tổ chức tài chính.
Các nhóm và từng phòng ban thường xuyển tiến hành các cuộc họp nhằm thực hiện những công việc mà ủy ban đưa ra. Ủy ban Basel là cơ quan chuyên đưa ra những kiến nghị và tư vấn cho các cơ quan giám sát hoạt động của các ngân hàng trên toàn thế giới. Đo lường hệ số an toàn vốn Như đã trình bày, bài viết tiếp cận đo lường tỷ lệ an toàn vốn là “ Tổng vốn cấp I và cấp II trên tổng tài sản có rủi ro”. Có khá nhiều các tiêu chí phản ánh về tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại như: - Quy mô ngân hàng - Tỷ lệ cho vay/ tổng tài sản - Tỷ lệ huy động vốn/ tổng tài sản - Tỷ suất lợi nhuận/ vốn chủ sở hữu - Tỷ lệ tài sản có khả năng thanh khoản - Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng - Lạm phát - Tăng trưởng kinh tế Để xác định và định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại.
Hệ số an toàn vốn tối thiểu là chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn về vốn của các ngân hàng, được xác định theo công thức sau: CAR bằng tỷ lệ phần trăm tổng vốn cấp một và cấp hai trên tài sản có rủi ro. 𝐕ố𝐧 𝐜ấ𝐩 𝐈 + 𝐕ố𝐧 𝐜ấ𝐩 𝐈𝐈 𝐂𝐀𝐑 = 𝐱 𝟏𝟎𝟎% 𝐓à𝐢 𝐬ả𝐧 đã đ𝐢ề𝐮 𝐜𝐡ỉ𝐧𝐡 𝐫ủ𝐢 𝐫𝐨 Khi xét đến hệ số an toàn vốn cần quan tâm hai loại vốn đó là : vốn cấp một hay còn gọi là vốn ban đầu và vốn cấp hai ( vốn được bổ sung vào ), vốn cấp 1 có mức độ tin cậy và an toàn cao hơn so với vốn cấp 2. Ngoài việc duy trì hệ số CAR ở mức tối thiểu 8%, mỗi ngân hàng còn phải đảm bảo rằng vốn cấp 2 không được vượt quá 100% vốn cấp 1. Trong đó, Vốn cấp I theo quan điểm của các cơ quan quản lý thì vốn cấp 1 là thước đo sức mạnh về tài chính vì nó đã bao gồm cả vốn tự có ban đầu khi thành lập.
Theo khải niệm của hiệp ước Basel được đưa ra bởi Uỷ ban Basel trong việc giám sát ngân hàng được thành lập vào năm 1974 bởi một số các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát bao gồm 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel của Thụy Sỹ nhằm 12 mục đích tìm ra cách ngăn chặn sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng vào những năm của thập kỷ 80, vốn cấp I bao gồm những loại vốn cơ bản như là : cổ phiếu thường, cổ phiểu ưu đãi nhưng không hoàn lại và không tích lũy, lợi nhuận giữ lại. Vốn cấp 1 có tính thanh khoản cao và độ tin cậy nhất, tuy nhiên theo quan điểm của cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng tại mỗi quốc gia lại có những quy định chi tiết hơn về cách tính vốn cấp 1. Vốn cấp II được tính đó là những khoản mục : lợi nhuận chưa được công bố, những tài sản được định giá lại, những khoản dự phòng rủi ro tín dụng chung và các công cụ kết hợp giữa khoản nợ và vốn, và các khoản nợ thứ cấp khác. Tài sản điều chỉnh rủi ro là tất cả những tài sản do chính ngân hàng đó nắm giữ được tính dựa trên công thức và tỷ trọng khác nhau cụ thể theo quy định của cơ quan quản lý ngân hàng là ngân hàng trung ương.
Phần lớn các ngân hàng trung ương đều dựa trên chuẩn mực quốc tế đã đặt ra để đặt tỷ trọng cho những tài sản này. Hiện nay, ngoài các tỷ trọng được áp dụng đối với rủi ro tín dụng, việc tính toán hệ số CAR còn cần đánh giá lại tài sản dựa trên rủi ro thị trường tại các NHTM. Quy mô ngân hàng (SIZE) được tính bằng cách lấy logarit của tổng tài sản, tổng tài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán của từng ngân hàng. SIZE = log(Tổng tài sản) Tỷ lệ huy động vốn trên tổng tài sản (DEP) được tính bằng số tiền huy động từ tổ chức và cá nhân của ngân hàng so với tổng tài sản của ngân hàng đó, số liệu được thu thập từ bảng cân đối kế toán.
DEP=(Tiền gửi của khách hàng)/(Tổng tài sản) Tỷ lệ cho vay của ngân hàng (LOA) được tính bằng dư nợ vay khách hàng trên tổng tài sản, chỉ số này thu thập trên bảng cân đối kế toán. LOA=(Cho vay khách hàng)/(Tổng tài sản) Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) được tính bằng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng chia cho tổng dư nợ cho vay khach hàng, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh, tổng dư nợ được thu thập từ bảng cân đối kết toán. 13 LLR=(Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng)/(Dư nợ cho vay khách hàng) Tỷ lệ tài sản có khả năng thanh khoản (LIQ) được xác định bằng tiền và các khoản tương đương tiền chia cho tổng tài sản, các chỉ tiêu này được thu thập từ bảng cân đối kế toán. LIQ=(Tiền và các khoản tương đương tiền)/(Tổng tài sản) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) được tính bằng lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu.
Lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh, vốn chủ sở hữu thu thập từ bảng cân đối kế toán.