đặt vấn đề, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, đóng góp của đề tài, tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu, cấu trúc của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu Chương này trình bày lý thuyết về năng lực cạnh tranh, đồng thời khảo lược các công trình nghiên cứu trước đây để đưa ra các giả thuyết và mô hình nghiên cứu dựa trên khái niệm, học thuyết và các nghiên cứu trước đây về năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu bao gồm xây dựng quy trình nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu. Trình bày phương pháp chọn mẫu, thiết kế thang đo cho bảng câu hỏi và mã hóa thang đo để phục vụ cho việc xử lí số liệu.
Đồng thời trình bày phương pháp tính toán và ý nghĩa các hệ số. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này trình bày các nội dung bao gồm đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA cho các biến của mô hình, phân tích hồi quy đa biến và kiểm định giả thuyết của mô hình. 7 Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Chương này sẽ trình bày những hàm ý chinh sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho ACB. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm về cạnh tranh Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lê Nin (2003) cho rằng: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch. Samuelson và Nordhaus (1989), cho rằng: Cạnh tranh là sự giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp Michael (1980) định nghĩa cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Như vậy, cạnh tranh là sự đua tranh giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Đối với các nhà sản xuất, họ cạnh tranh nhau để có được những lợi thế, những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Từ đó, thu được nhiều lợi ích cho mình.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1980. Aldington (1985) cho rằng: Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là Doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao.
Như vậy, 9 năng lực canh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đấy là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính băng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách riêng biệt mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trường. Tuy nhiên, nếu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mà chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e chưa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định. Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.
Porter (1985) cho rằng: Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn; hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hóa hay dịch vụ chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn. (“Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh”, 1994 , tr109- 110) định nghĩa Doanh nghiệp có sức cạnh tranh là doanh nghiệp duy trì được vị thế trên thị trường so với các nhà sản xuất khác và doanh nghiệp đưa ra sản phẩm thay thế hoặc sản phẩm cùng loại với sản phẩm doanh nghiệp khác nhưng với mức giá thấp hơn hoặc doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm tương tự với nhà cung cấp khác nhưng có đặc tính về chất lượng ngang bằng hoặc cao hơn. “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm.
Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. (Bộ thương mại và Công nghiệp Anh, 1998) “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục 10 đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình”. (Buckley, 1988) Doanh (2003), cho rằng: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước. Thiêm (2005) cho biết: Năng lực cạnh tranh là việc gia tăng giá trị nội sinh và ngoại sinh của doanh nghiệp.
Tóm lại, một khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp nhất trong bối cảnh hiện tại có thể là khả năng duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững. Quan trọng là, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp. Lý thuyết về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng TM Theo WEF (1997), báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu thì năng lực cạnh tranh đựơc hiểu là khả năng, năng lực mà ngân hàng có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của ngân hàng, đồng thời đạt được được những mục tiêu của ngân hàng đặt ra.
Năng lực cạnh tranh có thể chia làm 3 cấp: Năng lực cạnh tranh quốc gia: Là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng: Là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài 11 nước. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó có đựơc. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: Được đo bằng thị phần của sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trường.
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó. Nó dựa vào chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sản phẩm dịch vụ đó. Quy (2005) cho rằng: Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh. Như vậy, việc đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM cần căn cứ vào những nguồn lực của ngân hàng như: nguồn lực tài chính, trình độ công nghệ và chất lượng đội ngũ nhân viên.
Đây là sức mạnh nội tại của ngân hàng, một khi ngân hàng biết phát huy nó có hiệu quả thì sẽ là lợi thế cạnh tranh của ngân hàng so với đối thủ cạnh tranh. Khi ngân hàng có năng lực cạnh tranh tốt thì ngân hàng đó sẽ tạo ra được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành trong bất cứ thời điểm môi trường kinh tế khó khăn hay thuận lợi. Từ đó, ngân hàng lại củng cố thêm sức mạnh cạnh tranh của mình để mở rộng thị phần. Theo Minh (2020) thì năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng mà ngân hàng đó có thể tạo ra mức lợi nhuận cao, từ đó duy trì và mở rộng thị phần trước mọi biến động của môi trường kinh doanh.
Đồng thời, đảm bảo sự an toàn và lành mạnh trong hoạt động kinh doanh. Theo đó, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một NHTM cần đánh giá trên 2 tiêu chí, đó là: khả năng tạo ra mức lợi nhuận cao và sự an toàn trong hoạt động kinh doanh theo những tiêu chí khách quan và chủ quan. Các vấn đề trong cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại 12 2. Cạnh tranh bằng sản phẩm, dịch vụ Theo WEF (1997), mỗi khách hàng của NHTM đều có nhiều nhu cầu mà NHTM có thể thỏa mãn như gửi và quản lý tiền, tài sản, tư vấn tài chính, vay tiền, mua bán ngoại tệ, thanh toán… Hơn nữa, nhu cầu của khách hàng đối với NHTM còn có xu hướng ngày càng tăng lên, ngày càng đòi hỏi phải được thoả mãn nhiều sản phẩm dịch vụ theo yêu cầu của họ một cách thuận tiện tại cùng một thời điểm.