đặt vấn đề cũng nhƣ tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu. Qua đó xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát cũng nhƣ các mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Chƣơng 1 sẽ bao gồm các câu hỏi nghiên cứu tƣơng ứng, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu. Ngoài ra, chƣơng 1 cũng nêu ra ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Cơ sở lý thuyết về tái cấu trúc hệ thống NHTM 2. Khái niệm tái cấu trúc hệ thống NHTM Rose (1994) cho rằng tái cấu trúc nhằm cải thiện hiệu quả và thanh khoản của NH trong giai đoạn khủng hoảng, tác giả đã đề cập tái cấu trúc bao gồm tái cấu trúc tài chính và tái cấu trúc hoạt động. Dziobek & Pazarbasioglu (1998), tái cấu trúc NH là các biện pháp hƣớng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của NH, bao gồm phục hồi khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, cải thiện năng lực hoạt động của toàn hệ thống NH để làm tròn trách nhiệm của một trung gian tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng.
Nguyễn Quỳnh Hoa (2014) cho rằng tái cấu trúc hệ thống NHTM là thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục các khiếm khuyết của hệ thống NHTM nhằm mục đích duy trì sự phát triển ổn định (bền vững, an toàn) và hiệu quả chức năng trung gian tài chính của hệ thống NHTM trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năng thanh toán và trung gian tín dụng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM. Kithinji (2017) đề cập tái cấu trúc bao gồm hoạt động tái cấu trúc tài chính, tái cấu trúc vốn, tái cấu trúc hoạt động và tái cấu trúc tài sản. Những hoạt động này làm gia tăng hiệu quả tài chính của NHTM trong giai đoạn khủng hoảng. Từ những khái niệm trên, tái cấu trúc NHTM có thể đƣợc hiểu là một chuỗi biện pháp đƣợc triển khai nhằm tập trung vào một nhóm hoạt động hoặc tổng thể các khía cạnh hoạt động của NHTM, bao gồm tài chính, quản trị tài sản, vốn, dịch vụ và quản lý hoạt động.
Mục tiêu của tái cấu trúc là giúp NHTM vƣợt qua khó khăn trong giai đoạn gặp khó khăn tài chính, duy trì hoạt động ổn định và nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính trung gian. Sự cần thiết của việc tái cấu trúc hệ thống NHTM Sự tiến bộ của nền kinh tế và hệ thống NH luôn có một mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Khi nền kinh tế phát triển, điều này thúc đẩy sự phát triển của hệ thống NH và ngƣợc lại. Vì thế, để có thể phát huy tốt nhất vai trò trung gian tài chính, hệ thống NHTM cần đƣợc thực hiện tái cấu trúc thƣờng xuyên (Kithinji (2017)).
Birchall & Simmons (2010) đã nhấn mạnh hệ thống NHTM thực hiện tái cấu trúc để khắc phục khiếm khuyết lớn trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế: Khi nền kinh tế gặp khủng hoảng kéo dài, môi trƣờng kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và hệ thống NH nói riêng sẽ trở nên nặng nề. Điều này gây ra những tác động nghiêm trọng cho hoạt động của NH, khiến nợ xấu gia tăng và nguy cơ mất vốn NH tăng lên. Tình hình này không chỉ đe dọa đến sự ổn định của nền kinh tế mà còn ảnh hƣởng đến cả xã hội. Để ngăn chặn quá trình này, việc tái cấu trúc cả hệ thống NH đang trở nên cấp bách.
Hoenig & Morris (2014) cho rằng, khi nền kinh tế không có khủng hoảng, NHTM cũng cần tái cấu trúc để khắc phục những khiếm khuyết của bản thân hệ thống NH nhƣ: Sự hạn chế về quy mô vốn nhỏ, trình độ quản trị hạn hẹp dẫn đến tình trạng NH trở nên thiếu hiệu quả và chất lƣợng tài sản giảm đi. Trong bối cảnh nền kinh tế liên tục phát triển và hội nhập, yêu cầu về quy mô và tính an toàn trong hoạt động của các NHTM cũng sẽ gia tăng. Do đó, việc thực hiện tái cấu trúc trở thành một nhiệm vụ tất yếu. Ngoài ra, Kithinji (2017) tái cấu trúc nhằm đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế: Ngay cả khi các NH đang hoạt động bình thƣờng trong thời kỳ phát triển nhƣng vẫn có sự cần thiết của việc tái cấu trúc.
Xuất phát từ việc khi nền kinh tế phát triển, NH cần nâng cao hiệu suất hoạt động và phát triển thêm các dịch vụ mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh này, việc tái cấu trúc hệ thống NHTM không nhất thiết phải là một quy trình toàn diện mà có thể tiến hành tái cấu trúc từng phần, tập trung vào các khía cạnh cụ thể nhƣ sản phẩm, nguồn nhân lực, công nghệ,. nhằm đáp ứng một cách linh hoạt và phù hợp với yêu cầu của tình hình mới. Nội dung tái cấu trúc hệ thống NHTM Quá trình tái cấu trúc hệ thống NH đã đƣợc thực hiện thông qua sự kết hợp linh hoạt nhiều biện pháp khác nhau.
Lindgren (1999) đề cập ba hình thức tái cấu trúc trong giai đoạn 1997–1999 đƣợc các NHTM ở châu Á thực hiện: Hợp nhất các NH, đóng cửa các NH yếu kém và sự can thiệp của chính phủ. Ngoài ra, Dziobek & Pazarbasioglu (1998) khảo sát 24 quốc gia thực hiện tái cấu trúc với những phƣơng pháp nhƣ: Chính phủ bơm vốn hoặc mua cổ phiếu để nắm giữ quyền quản lí, đóng cửa các NH yếu kém, sáp nhập các NH trong nƣớc với NH nƣớc ngoài, sáp nhập NH trong nƣớc với nhau, thành lập công ty quản lí tài sản, thay đổi cơ cấu sở hữu NH nhƣ hình thức tƣ nhân hoá. Bên cạnh đó, Thoraneenitiyan & Avkiran (2009) cũng đề cập đến ba hình thức tái cấu trúc đƣợc áp dụng phổ biến là hợp nhất, sự tham gia của các NH nƣớc ngoài và sự can thiệp của chính phủ. Tóm lại, nhìn chung ba hình thức tái cơ cấu phổ biến đƣợc thảo luận trong các nghiên cứu bao gồm: (i) Cổ phần hoá NHTM NN Trong quá trình tái cấu trúc các NHTM NN, việc chuyển đổi thành hình thức cổ phần hoá là một trong những biện pháp phổ biến mà các chính phủ áp dụng.
Williams & Nguyen (2005) đã tiến hành khảo sát về mối liên hệ giữa hiệu suất hoạt động của các NH và cách quản trị chúng tại các quốc gia Đông Nam Á từ 1990 đến 2003. Kết quả nghiên cứu này cho thấy trong thời gian đó, NHTM NN thƣờng hoạt động dƣới mức hiệu quả so với các NH tƣ nhân. Vì thế, cổ phần hoá NH trong ngắn và trung hạn có thể tăng thu nhập và TTS từng NH. Baer & Nazmi, (2000) nêu ra các hoạt động không hiệu quả của các NHTM NN đã ảnh hƣởng tiêu cực đến tăng trƣởng kinh tế tổng thể tại Brazil.
Do đó, chính phủ của Brazil đã thực hiện những tác động mạnh mẽ thông qua NHTW để tiến hành tái cơ cấu hệ thống NH. Biện pháp tƣ nhân hoá NHNN và can thiệp vào hoạt động của một số NH đang gặp khó khăn đã đƣợc thực hiện nhƣ một phần của quá trình này. (ii) Hợp nhất, sáp nhập 7 Hawkins & Turner (1999) chứng minh rằng việc tái cấu trúc NH có thể mang lại kết quả tích cực khi một NH lớn tiến hành thâu tóm một NH nhỏ gặp khó khăn. Điều này thƣờng diễn ra dễ dàng hơn trong thời kỳ bình thƣờng hơn là trong giai đoạn khủng hoảng vì quá trình sáp nhập có thể gặp sự trì hoãn hoặc cản trở.
Các tài liệu nghiên cứu đã chứng minh rằng việc hợp nhất và sáp nhập các NH tại các quốc gia có thể tạo điều kiện cải thiện đáng kể hiệu suất hoạt động. Ngoài ra, Krishnasamy (2004) đƣa ra dẫn chứng trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động của NH tại Malaysia trƣớc và sau khi sáp nhập NH giai đoạn 2000–2001. Ông nhấn mạnh rằng tăng cƣờng tổng hệ số hiệu quả do sự tiến bộ công nghệ trong hệ thống NH có tác động lớn hơn so với việc cải thiện hiệu suất tại từng NH cụ thể. Bên cạnh đó, Peng & Wang (2004) đã chứng minh cho việc sáp nhập NH đã dẫn đến việc gia tăng hiệu quả hoạt động tại các NH tại Đài Loan.
(iii) Sự can thiệp của chính phủ Một phƣơng pháp khác mà chính phủ áp dụng để giúp quá trình tái cơ cấu NH là tạm thời tiếp quản các NH đang gặp khó khăn. Theo Barth (1997) cho rằng chính phủ có thể trực tiếp cải thiện sự phục hồi của NH bằng cách mua lại giấy tờ có giá hay cân bằng nợ dài hạn cho những NH yếu kém. Ngoài ra, Borish (1995) cho rằng tái cấp vốn cho NH yêu cầu đi kèm với việc thay đổi cấu trúc của NH, bao gồm việc điều chỉnh quyền sở hữu và quản lý của hội đồng quản trị. Jeon & Miller (2005) nói về trƣờng hợp của Hàn Quốc, chính phủ đã tiến hành mua lại các khoản vay không đƣợc bảo đảm và các nợ dƣới mức chuẩn nhằm hỗ trợ quá trình cấp vốn lại cho các NH tƣ nhân.
Vai trò của NHTW trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Với vai trò là cơ quan quản lý của các NHTM, NHTW đảm bảo tính an toàn trong hoạt động của toàn bộ hệ thống NHTM của quốc gia. Vì vậy, NHTW không thể bỏ qua quá trình tái cấu trúc. Vai trò quan trọng của NHTW trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM đƣợc thể hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau: Tổ chức quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM 8 Với vai trò là ngƣời đứng đầu trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM, NHTW thực hiện quá trình này thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau đây: + Rà soát, đánh giá tình hình hoạt động của hệ thống NHTM Bằng việc thực hiện quy trình đánh giá tổng thể về hoạt động của các NHTM, NHTW xác định những khía cạnh yếu kém trong hệ thống NHTM, liên quan đến cấu trúc tài chính, hoạt động kinh doanh, quản trị và cơ sở. Dựa trên thông tin thu thập, NHTW thực hiện việc phân loại các NHTM thành các nhóm khác nhau nhƣ lành mạnh, trung bình hoặc yếu kém.
Quá trình này đóng góp quan trọng cho việc xây dựng các kế hoạch tái cấu trúc hệ thống NH một cách hiệu quả.