Chương 1: Giới thiệu Trong chương này, tác giả sẽ giới thiê ̣u về lý do cho ̣n đề tài, mu ̣c tiêu nghiên cứu tác giả hướng đế n cũng như các câu hỏi nghiên cứu cần trả lời, xác định đố i tượng, pha ̣m vi nghiên cứu và nêu ra ý nghiã thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này sẽ nêu lên cơ sở lý luâ ̣n, nề n tảng lý thuyế t về hiệu quả hoạt động. Đồng thời tổng quan các nghiên cứu trước đây dựa vào các kết quả thực 6 nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thông qua các nghiên cứu trong nước và ngoài nước. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trong chương này, dựa trên các nghiên cứu trước đây về hiệu quả hoạt động để xây dựng mô hình nghiên cứu, cơ sở dữ liê ̣u, đưa ra các giả đinh ̣ và kỳ vo ̣ng để thực hiê ̣n nghiên cứu bằ ng phương pháp đinh ̣ lươ ̣ng.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương này, thực hiện thống kê mô tả các biến để có cái nhìn tổng quan và phân tích ma trận tương quan giữa các biến số. Đồng thời sẽ tiến hành phân tích các kết quả ước lượng từ phương trình nghiên cứu. Chương 5: Kết luận Trong chương sẽ tóm tắ t la ̣i kế t quả nghiên cứu, phân tić h những điể m mới của đề tài cũng như những điểm còn ha ̣n chế , hướng nghiên cứu tiế p theo, đồ ng thời, dựa trên kế t quả nghiên cứu để đưa ra những kiế n nghi ̣phù hơ ̣p. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Việc nghiên cứu vấn đề hiệu quả hoạt động của một ngân hàng khá là quan trọng không những bởi vì nó có thể cung cấp thông tin hiện tại của ngân hàng tại bất kỳ một thời điểm mà còn bởi vì một ngân hàng có hiệu quả hoạt động tốt sẽ có chiến lược tăng trưởng tốt trong trung hạn.
Tổng quan lý thuyết về hiệu quả hoạt động của ngân hàng 2. Mô hình Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (Stucture – Conduct – Performance Models) Mô hình Cấu trúc – hành vi – hiệu quả (SCP) là một trong những khuôn khổ sớm nhất được sử dụng để kiểm tra các yếu tố quyết định lợi nhuận của các ngân hàng (Grygorenko, 2009). Theo Baye (2010), cấu trúc của một ngành có liên quan đến các yếu tố như công nghệ, mức độ tập trung và điều kiện thị trường. Hành vi đề cập đến cách mà các công ty hoạt động trên thị trường; nó liên quan đến các quyết định định giá (như lãi suất, hoa hồng, lệ phí), quyết định quảng cáo, và các quyết định đầu tư vào nghiên cứu và phát triển.
Hiệu quả đề cập đến lợi nhuận đạt được và phúc lợi xã hội phát sinh trên thị trường. Mô hình Cấu trúc – hành vi – hiệu quả (SCP) xem xét ba khía cạnh của ngành như có liên quan trọn vẹn và khẳng định rằng cấu trúc thị trường khiến các công ty phải cư xử theo một cách nhất định. Đổi lại, hành vi này gây ra các nguồn lực được phân bổ theo những cách nhất định và dẫn đến một thị trường hiệu quả hoặc là không hiệu quả. Mô hình này chỉ không nhận ra hiệu suất có thể ảnh hưởng đến cấu trúc và tiến hành trong khi cấu trúc có thể ảnh hưởng đến cả hiệu suất và ứng xử.
Do đó, kết cấu ứng xử Hiệu suất (SCP) mô hình khẳng định rằng các yếu tố bên ngoài để các tổ chức như các điều kiện thị trường chủ yếu và gián tiếp, yếu tố quyết định lợi nhuận. Mason (1939) và Bain (1951) là những người đầu tiên cho thấy rằng lợi nhuận của các công ty được xác định bởi mức độ tập trung của thị trường. Các tác giả chứng minh rằng lợi nhuận của các công ty hoạt động trong thị trường có mức 8 độ tập trung ngành cao hơn sẽ cao so với các doanh nghiệp hoạt động trong thị trường có mức độ tập trung ngành thấp hơn hơn. Cấu trúc – hành vi – hiệu quả (SCP) kỳ vọng rằng mức độ tập trung ngành ngân hàng cao hơn sẽ cho phép sự thông đồng của các ngân hàng để thiết lập mức giá cao hơn và do đó đạt được lợi nhuận đáng kể hơn so với các ngân hàng khác (Mason, 1939; Bain, 1951; Stigler, 1964; Heggested, 1977; Clark, 1986; Sathye, 2005; Samad, 2008; Alzaidanin, 2003; Piloff và Rhoades, 2002).
Một lý thuyết khác đã nỗ lực để đưa ra một lời giải thích khác đối với mô hình Cấu trúc – hành vi – hiệu quả lần đầu tiên được thực hiện bởi Demsetz (1973), người đã đưa ra Lý thuyết hiệu quả (Efficiency hypothesis). Tác giả khẳng định rằng lợi nhuận của các ngân hàng cao không phải là do sự thông đồng giữa các ngân hàng (mức độ tập trung ngành ngân hàng cao) mà là do mức độ hiệu quả của ngân hàng cao hơn. Nói cách khác, lợi nhuận của các ngân hàng được xác định không phải do sự tập trung của ngành ngân hàng mà là do hiệu quả của ngân hàng (Grygorenko, 2009). Giả thuyết này giả định rằng một ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh tranh của nó để đạt được lợi nhuận nhiều hơn là do việc giảm thiểu được chi phí hoạt động.
Do đó, sự khác biệt trong mức độ hiệu quả của các ngân hàng sẽ tạo nên những vị trí khác biệt trong thị trường và một mức độ tập trung sẽ cao hơn (Zouari, 2010). Smirlock (1985) thực hiện kiểm định thực nghiệm của Lý thuyết hiệu quả, trong đó tác giả sử dụng chỉ tiêu thị phần như là một đại diện cho sự hiệu quả của các ngân hàng. Trong nghiên cứu thực nghiệm của tác giả với 2700 ngân hàng được sử dụng, Smirlock (1985) đã có thể chứng minh rằng không có mối quan hệ giữa mức độ tập trung của thị trường và lợi nhuận ngân hàng, trong khi tồn tại mối quan hệ giữa lợi nhuận ngân hàng và thị phần của các ngân hàng. Vì vậy, với bằng chứng thực nghiệm của tác giả, mô hình Cấu trúc – hành vi – hiệu quả (SCP) đã không còn 9 giá trị trong việc giải thích hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.
Tuy nhiên, Rhoades (1985) nghi ngờ kết luận rằng mối quan hệ cùng chiều giữa thị phần và lợi nhuận là do hiệu quả gây ra. Tác giả cho rằng ảnh hưởng này có thể xảy ra bởi vì sự đa dạng hóa sản phẩm của ngân hàng và do đó các ngân hàng có khả năng thiết lập mức giá cao hơn đối với các dịch vụ của họ. Theo Grygorenko (2009), các nghiên cứu thực nghiệm sau này không đem đến sự nhất quán trong việc đưa ra câu trả lời cho việc sử dụng lý thuyết nào trong các lý thuyết đã đề cập ở trên để giải thích lợi nhuận của các ngân hàng một cách chính xác nhất: Ahmad và Haron (1998), Yu và Neus (2005) cho rằng lý thuyết Cấu trúc – hành vi – hiệu quả giải thích cho lợi nhuận của ngân hàng một cách tốt hơn, trong khi đó, Mamatzakis và Remoundos (2003) và Naceur (2003) lại tìm thấy bằng chứng cho thấy. Lý thuyết hiệu quả lại phù hợp hơn trong việc giải thích lợi nhuận của các ngân hàng.
Lý thuyết này sẽ được kiểm tra bằng cách sử dụng biến thị phần của ngành ngân hàng thông qua việc tính toán tỷ lệ tổng tài sản của ngân hàng trên tổng tài sản các ngân hàng và đánh giá ảnh hưởng của biến số này đến hiệu quả hoạt động. Lý thuyết về Hiệu quả hoạt động Trong kinh tế học, hiệu quả kinh tế là thuật ngữ chỉ việc sử dụng các nguồn lực để tối đa hóa sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Một hệ thống kinh tế được cho là hiệu quả hơn nếu có thể cung cấp thêm hàng hóa và dịch vụ cho xã hội mà không sử dụng nhiều tài nguyên hơn. Theo Antonio và cộng sự (2006) thì “Hiệu quả là phép so sánh giữa đầu vào và đầu ra hay giữa lợi nhuận và chi phí.
Với cùng đầu vào cho trước, hoạt động nào tạo ra đầu ra lớn hơn sẽ là hoạt động hiệu quả hơn”. Trong khi đó, theo Nguyễn Khắc Minh (2004), hiệu quả là “Mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã định trước”. 10 Lợi nhuận có thể được hiểu theo ý nghĩa kinh tế hoặc khái niệm kế toán, trong đó lợi nhuận cho thấy sự vượt trội của thu nhập so với chi phí trong khoảng thời gian nhất định. Một mặt, lợi nhuận là một trong những lý do chính yếu cho sự tồn tại của mọi tổ chức kinh doanh.
Mặt khác, lợi nhuận được kỳ vọng để đáp ứng tỷ suất sinh lợi yêu cầu của chủ sở hữu cũng như các đối tượng khác ở bên ngoài. Đồng thời, Koller (2011) lập luận rằng lợi nhuận là chỉ số quan trọng nhất và đáng tin cậy vì nó mang lại một chỉ số rộng các khả năng của công ty để nâng cao mức thu nhập của mình. Trong thực tế, giám đốc điều hành xác định lợi nhuận bằng chênh lệch giữa tổng thu nhập từ tất cả các tài sản thu nhập và tổng chi phí cho việc quản lý toàn bộ danh mục tài sản có – tài sản nợ (Narinder và Reetu, 2007). Đối với một tổ chức hoạt động vì lợi nhuận, lợi nhuận chính là linh hồn của doanh nghiệp, tổ chức đó.
Do đó, tầm quan trọng của lợi nhuận bắt nguồn từ lý do tồn tại (mục đích) của doanh nghiệp. Một công ty vẫn cố gắng hoạt động vì công ty hy vọng sẽ tạo ra lợi nhuận trong tương lai. Tuy nhiên, một khi sự kỳ vọng này khẳng định không thể đạt được, các quyết định hợp lý nhất là tuyên bố phá sản. Hệ thống NHTM đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, do đó hiệu quả hoạt động ngân hàng là một trong những vấn đề luôn được quan tâm.
Các ngân hàng phải luôn thể hiện hiệu quả cao với yêu cầu tăng trưởng liên tục nhằm củng cố tiềm lực tài chính, đồng thời bảo đảm an toàn hoạt động trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Trong hoạt động của ngân hàng thương mại, theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: - Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. - Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng.