Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Phần đầu chương 2 sẽ giới thiệu các lý thuyết về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên. Đồng thời lược khảo các công trình nghiên cứu trước của các tác giả khác nhau có liên quan đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên để đúc kết những tinh túy cho luận văn. Đây là một phần quan trọng và không thể thiếu trong một công trình nghiên cứu.1 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Khái niệm: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM – Net Interest Margin) đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất (Trương Quang Thông, 2012, trang 63).
NIM được xác định bằng chênh lệch giữa thu nhập từ lãi mà ngân hàng nhận được và chi phí lãi mà ngân hàng phải trả, chia cho tài sản Có sinh lời bình quân của ngân hàng - công thức như sau : Trong đó: - Thu nhập lãi là thu nhập từ các khoản cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư, tiền gửi tại NHNN, cho vay các tổ chức tín dụng và thu khác từ hoạt động tín dụng. - Chi phí lãi là chi phí trả lãi mà ngân hàng phải trả cho tiền gửi, tiền vay và các khoản chi phí tương tự. 7 - Tài sản Có sinh lời là tài sản Có của ngân hàng tạo ra thu nhập lãi trong một khoảng thời gian cụ thể bao gồm: Cho vay khách hàng (tín dụng), chứng khoán đầu tư, tiền gửi tại NHNN Việt Nam, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác (thị trường liên ngân hàng). Tài sản Có sinh lời không bao gồm tiền – kim loại quý tại quỹ và tài sản cố định.
Ý nghĩa: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên giúp nhà quản trị thấy được khả năng sinh lời và dự báo khả năng sinh lời trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Qua đó có thể điều chỉnh, kiểm soát chặt chẽ các loại tài sản có sinh lời, tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp, đồng thời có chính sách tăng giảm lãi suất một cách hợp lý (Nguyễn Đăng Dờn, 2009, trang 168). - Xét về góc độ kinh tế, đối với hầu hết các ngân hàng, thu nhập lãi đại diện cho một phần quan trọng trong thu nhập hoạt động. Hệ số NIM của ngành ngân hàng càng cao thì ngân hàng hoạt động tốt trong quản trị tài sản Nợ - Có.
Ngược lại, NIM có xu hướng thấp cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị co hẹp lại. Theo như đánh giá của S&P thì tỷ lệ NIM dưới 3% được xem là thấp trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao. NIM có xu hướng cao ở các ngân hàng bán lẻ quy mô nhỏ, các ngân hàng thẻ tín dụng và các tổ chức cho vay hơn là NIM của các ngân hàng bán buôn, các ngân hàng đa quốc gia hay các tổ chức cho vay cầm cố (Allen và Gale, 1995), (Nguyễn Minh Sáng và các cộng sự, 2014, trang 21-22). - Xét về góc độ lợi ích xã hội, NIM ở mức nào là tốt, ở mức nào là xấu vẫn còn là vấn đề cần phải làm rõ (Doliente, 2005).
Theo kết quả nghiên cứu của Claeys và Vennet năm 2008, ở các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi có tỷ lệ NIM cao được đánh giá là kém hiệu quả và do thị trường không cạnh tranh gây ra. Trong trường hợp này, NIM cao làm cho lãi suất cho vay cao, gây khó khăn cho các doanh nghiệp huy động vốn, trong khi lãi suất huy động lại thấp nên khó thu hút được tiền gửi. Một NIM thấp có thể cho thấy sự cạnh tranh, hoạt động hiệu quả trong hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, nếu một môi trường kinh tế mà các ngân hàng yếu kém được phép hoạt động và thực hiện chiến lược cấp tín dụng với lãi suất cho vay thấp 8 để tăng thị phần thì tỷ lệ NIM thấp chưa thể khẳng định là tốt (Doliente, 2005), (Nguyễn Minh Sáng và các cộng sự, 2014, trang 21-22).
Tóm lại, xét về góc độ kinh tế, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cao thì luôn được coi là tốt. Về góc độ lợi ích xã hội, NIM cao hay thất được xem là tốt thì chỉ mang tính chất tương đối. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên thấp chứng tỏ hệ thống ngân hàng hoạt động không hiệu quả nhưng lại giúp các doanh nghiệp dễ dàng trong việc tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng. Ngược lại, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cao cho thấy các ngân hàng đang thu được nhiều lợi nhuận, nhưng lại là hàng rào ngăn cản trong việc lưu thông tín dụng, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.
Ở đây tồn tại xung đột lợi ích giữa người làm chính sách có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích xã hội, và hệ thống ngân hàng thương mại có mục tiêu là tối đa lợi nhuận.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Theo công thức tính tỷ lệ thu nhập lãi cận, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên sẽ thay đổi khi xuất hiện sự biến động lãi suất, sự xuất hiện những thay đổi trong lãi suất nói chung. Trong ngắn hạn, khi lãi suất thị trường giảm, chi phí huy động của ngân hàng sẽ giảm theo nhanh hơn so với thu nhập lãi, kéo theo tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tăng. Ngược lại, khi lãi suất thị trường tăng sẽ làm cho tỷ lệ thu nhập lãi cận biên giảm. Tuy nhiên, theo thời gian, cơ chế truyền dẫn này sẽ giảm bớt hiệu lực, do các khoản cho vay trung – dài hạn cũ đáo hạn hoặc được thiết lập ở mức lãi suất mới phù hợp với lãi suất thị trường, cũng có thể do những tác nhân khách quan như mệnh lệnh hành chính của Nhà nước,… Vì thế, trong trung – dài hạn thì tác động của biến cố tăng lãi suất tới thu nhập của các ngân hàng là không rõ ràng.
Bên cạnh đó, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cũng bị biến động khi xuất hiện những thay đổi về giá trị tài sản nhạy với lãi suất mà ngân hàng nắm giữ khi mở rộng hay thu hẹp hoạt động, những thay đổi về giá trị nợ nhảy cảm với lãi suất mà ngân hàng sử dụng để tài trợ cho danh mục tài sản sinh lời và những thay đổi trong cấu trức nợ,… Qua đó, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được các nhà quản trị ngân hàng lựa chọn để đo lường các tác động của sự thay đổi lãi suất. 9 Tuy nhiên, ngoài những nhân tố được thể hiện rõ qua công thức tính tỷ lệ thu nhập lãi cận biên trên, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên còn bị ảnh hưởng bởi tác động từ những nhân tố khác xuất phát từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cụ thể là: - Vốn chủ hữu là nguồn vốn được tạo nên từ sự góp vốn ban đầu của chủ ngân hàng hoặc được bổ sung trong quá trình hoạt động kinh doanh sau này, bao gồm vốn điều lệ khi đăng ký thành lập ngân hàng, thặng dư vốn, lợi nhuận chưa phân phối và một số vốn khác. Quy mô vốn chủ sở hữu tuy không tác động trực tiếp đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên nhưng tác động thông qua áp lực tăng trưởng tín dụng. Tăng vốn giúp các ngân hàng nâng cao năng lực tài chính để đảm bảo các hệ số an toàn vốn (hệ số CAR).
- Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Rủi ro tín dụng được phản ánh qua tỷ lệ nợ xấu hoặc tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu quá cao dẫn đến tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng cao không những làm giảm thu nhập của ngân hàng mà còn làm giảm nguồn vốn. Bên cạnh đó, ngân hàng còn phải đối mặt với nhiều nguy cơ tiềm ẩn khác như rủi ro thanh khoản, khó khăn trong việc huy động vốn, uy tín và năng lực cạnh tranh bị sụt giảm.
Do đó, ngân hàng phải trả chi phí cao hơn cho việc huy động vốn và tăng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên để bù đắp lại những phí tổn thất xảy ra. - Thanh khoản ngân hàng là khả năng ngân hàng đảm bảo thực hiện tất cả nghĩa vụ thanh toán đã cam kết, được phản ánh qua nhiều cách đo lường khác nhau như tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản, tỷ lệ dư nợ trên huy động vốn và một số cách đo lường khác. Thanh khoản tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên thông qua chi phí sử dụng vốn. Ngân hàng bỏ ra nhiều chi phí hơn để huy động vốn khi gặp khó khăn trong thanh khoản, làm tăng chi phí vốn, chênh lệch giữa cho vay và huy động vốn tăng.
- Chi phí hoạt động là các khoản chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động 10 kinh doanh của ngân hàng. Kiểm soát chi phí là hoạt động thiết yếu đối với mỗi ngân hàng. Quản lý hiệu quả chi phí hoạt động giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận và hiệu quả hoạt động. Chi phí hoạt động tác động trực tiếp đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đối với các ngân hàng có nguồn thu nhập chủ yếu từ lãi.
- Thu nhập thuần ngoài lãi của ngân hàng bao gồm thu nhập thuần từ phí và dịch vụ từ hoạt động ngân hàng, đầu tư chứng khoán, các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư khác, và thu nhập khác. Ngân hàng sẽ giảm chi phí dự phòng rủi ro nếu nguồn thu nhập của ngân hàng đến từ nhiều mảng hoạt động kinh doanh khác nhau. Đây cũng chính là xu hướng phát triển bền vững của các ngân hàng trong thời gian tới.3 Các nghiên cứu có liên quan 2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đều sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của ngân hàng, cụ thể như: Raja Almarzoqi và Sami Ben Naceur (IMF, 2015) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố bên trong ngân hàng và các nhân tố vĩ mô đến NIM của 110 NHTM tại các quốc gia thuộc Cáp-ca-dơ (Caucasus) và Trung Á (Central Asia), gọi chung là CCA, giai đoạn 1998 - 2013.