Phần mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Rủi ro thanh khoản 2. Khái niệm rủi ro thanh khoản Theo Ndoka và cộng sự (2017), đây không phải là một vấn đề mới nhưng thanh khoản trong tài liệu về tài chính lại không có định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi. Nguyên nhân có thể là xuất phát từ những quan điểm kinh tế khác nhau (Adler, 2012).
Tuy nhiên, một số tài liệu nghiên cứu trước đây cũng có đưa ra nhiều khái niệm về thanh khoản. Mwangi (2014) và Cai và Zhang (2017) cho rằng khả năng để tăng lượng tài sản và đáp ứng kỳ vọng cũng như nghĩa vụ về tiền mặt cho người gửi và những phát sinh bất ngờ mà không gây ra những tổn thất nghiêm trọng thì được xem là thanh khoản. Trong khi đó, AL-Ardah và Al-Okdeh (2022) lại cho rằng thanh khoản là tập hợp một lượng tiền hoặc quỹ có sẵn để ngân hàng có thể đối phó các tình huống bất ngờ hoặc bổ sung vốn ngay tức thì. Nó được xem là biên độ an toàn để dựa vào đó có thể giúp ngân hàng tăng khả năng thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội (Iman và cộng sự, 2017).
Ông cũng chỉ ra thanh khoản phản ánh khả năng trong việc thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn của họ mà không cần bất kỳ hỗ trợ tài chính bên ngoài. Tính thanh khoản của ngân hàng là còn được xem xét ở khía cạnh hoàn thành được các cam kết tài chính hoặc các hoạt động tài trợ như cho vay, đầu tư, rút tiền gửi (Alshatti, 2014; Msuku, 2020; BIS, 2008). Theo Trabelsi (2015) và Muranaga và Ohsawa (2002), khái niệm về thanh khoản xuất phát từ sự lo lắng và không chắc chắn đối với sự quản lý của định chế tài chính. Họ cho rằng một tổ chức có thể việc chuyển tài sản thành phương tiện thanh toán nhanh chóng được xem là thanh khoản.
Hơn nữa, theo Basel (2008), thanh khoản là khả năng tài trợ vốn cho việc mua thêm tài sản và thực hiện đúng các nghĩa vụ đến hạn mà không gây ra những tổn thất 9 vượt quá ngưỡng ngân hàng chấp nhận (Edem, 2017; Msuku, 2020). Tài sản thanh khoản thường tồn tại dưới các hình thức như tiền mặt, các khoản tương đương tiền và tài sản có thể bán được ngay lập tức để thu hồi tiền mặt (Edem, 2017; Eljelly, 2004). Về định nghĩa của rủi ro thanh khoản, Duttweiler (2009) nghĩa là việc Ngân hàng mất khả năng thanh toán tại một thời điểm hay Ngân hàng phải chấp nhận trả chi phí cao, bị ép buộc bán tài sản giá thấp. Nguyễn Thị Bích Thuận và Phạm Ánh Tuyết (2021) cho rằng rủi ro thanh khoản chỉ xuất hiện khi ngân hàng không kịp chuyển đổi các loại tài sản ra tiền mặt một cách nhanh chóng để chi trả những hợp đồng thanh toán.
Có thể hiểu đơn giản là ngân hàng không còn đủ tiền cần để đáp ứng được nhu cầu của thị trường và nó có thể không chỉ dừng lại ở một ngân hàng mà có nguy cơ lan rộng. Ngân hàng Nhà nước thì khi ngân hàng mất khả năng thực hiện hoàn trả nợ khi đến hạn hoặc phải trả chi phí nhiều hơn (trích Thông tư số 08/2017/TT-NHNN ngày 01/8/2017). Tương tự, Wang (2022) trong nghiên cứu của ông cũng đưa ra khái niệm rủi ro thanh khoản theo định nghĩa của cơ quan quản lý ngân hàng Trung Quốc - China Banking Regulatory Commission (CBRC) như sau: rủi ro thanh khoản là không kịp thời thanh toán với chi phí hợp lý và không đáp ứng được các nhu cầu vốn khác trong hoạt động của Ngân hàng. Nó là rủi ro không thể thanh lý một tài sản kịp thời ở mức giá hợp lý, mất khả năng đáp ứng hiệu quả cả dòng tiền hiện tại và tương lai dự kiến và bất ngờ (Sabir, 2021; Muranaga và Ohsawa, 2002).
Bên cạnh đó, theo Ủy ban Basel việc ngân hàng lấy tiền gửi ngắn hạn cho những mục đích, hoạt động dài hạn tức là chuyển đổi các khoản nợ thanh khoản ngắn hạn thành các khoản nợ dài hạn kém thanh khoản đã tạo ra tính dễ bị tổn thương, phát sinh vấn đề rủi ro. Do đó, tầm quan trọng của quản lý rủi ro thanh khoản như một công cụ hiệu quả đối với các ngân hàng thương mại trong các hoạt động hàng ngày. Nó giúp đánh giá tình hình tài chính của các công ty và tổ chức tài chính (Rasham và Daghim, 2018). Đồng thời nó sẽ đảm bảo được dòng tiền trong ngân hàng.
Điều này không những tạo và nâng cao được uy tín mà còn là động lực thu hút được người gửi tiền vào Ngân hàng. Theo Ibe (2013) đã báo cáo rằng quản lý thanh khoản đòi hỏi cần 10 phải thiết lập các khoản tài sản mà dòng tiền ra có thể cung cấp mà không cần điều chỉnh về trách nhiệm pháp lý. Nguyên nhân dẫn đến kém thanh khoản Lukorito và cộng sự (2014) khuyến nghị nên có cơ chế kiểm soát mức nợ xấu này để tránh ảnh hưởng hệ thống ngân hàng gây mất khả năng thanh khoản. Trong khi đó, Rochet (2008) đã đưa ra ba nguyên nhân dẫn đến sự kém thanh khoản gồm: Thứ nhất, vì sự không chắc chắn rất lớn về tiền gửi, đáo hạn các khoản vay đã vô tình tạo ra sự nghi ngờ khi có sự thiếu hụt thanh khoản chung hoặc khi nền kinh tế có cú sốc bên ngoài.
Ngân hàng nhà nước yêu cầu các ngân hàng báo cáo và đảm bảo lượng tiền dự trữ để không bị mất khả năng thanh khoản (Obi-Nwosu và cộng sự, 2017). Các ngân hàng cần lập lế hoạch quản lý trên cơ sở tuân thủ pháp luật. Nhưng thực tế việc quản lý còn chưa chặt chẽ do sự lên kế hoạch không đầy đủ. Thứ hai, một số điều không chắc chắn về số lượng vay mới trong tương lai.
Ngân hàng mặc dù có thể từ chối cấp các khoản vay mới này nhưng sẽ làm mất cơ hội tạo thêm lợi nhuận, điều ngân hàng không mong muốn. Nếu công ty vay xảy ra phá sản thì sẽ gây tổn thất thêm cho Ngân hàng. Cuối cùng là hoạt động ngoại bảng như hạn mức tín dụng và những cam kết khác. Hơn nữa, vị thế trên thị trường phái sinh cũng có thể tạo ra nhu cầu thanh khoản cao trong thời kỳ bất ổn.
Khá ít ngân hàng ở Việt Nam có sự lên kế hoạch chỉnh chu cho các nhu cầu của Ngân hàng. Cụ thể là dự đoán được cung và cầu tiền trong tương lai (Emefiele, 2015). Trong cuốn sách “Commercial Bank Management” của Rose (2002) thì nguyên nhân dẫn đến sự mất khả năng thanh khoản đến từ: Thứ nhất, sự suy thoái kinh tế: Nếu kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái, các khoản vay có thể bị thất thoát hoặc khách hàng không thể trả nợ đúng hạn, gây ra không thanh toán nhanh các khoản vay khác. Thứ hai, sự suy giảm giá trị tài sản: Nếu giá trị các tài sản mà ngân hàng sở hữu giảm sút, ví dụ như giá trị của các khoản vay bị mất giá hoặc giá trị của các khoản đầu tư giảm, thì ngân hàng có thể không thể đáp ứng được yêu cầu thanh toán của khách hàng.
Thứ ba, chênh lệch trong kỳ hạn huy động và cho vay: Ngân hàng 11 huy động nguồn tiền nhàn rỗi với đủ mọi kỳ hạn từ nền kinh tế và biến chúng thành các khoản tín dụng ngắn và dài hạn. Nhưng nếu ngân hàng sử dụng nhiều nguồn huy động ngắn hạn cho các mục đích dài hạn sẽ làm mất cân bằng giữa các kỳ đến hạn (Oldfield và Santomero, 1997; Madhuwanthi and Morawakage 2019). Dòng tiền thu hồi không đáp ứng được các khoản chi trả. Bên cạnh đó, nếu ngân hàng không còn cung cấp được khoản vay phù hợp với nhu cầu của khách hàng hoặc nhu cầu vay giảm đáng kể, thìcó thể mất khả năng thanh khoản.
Thứ tư, sự tăng nợ xấu: Nếu tỷ lệ nợ xấu tăng cao, thì ngân hàng có thể không thể thu hồi được khoản nợ, gây ra ngân hàng mất khả năng thanh toán nhanh các khoản vay khác. Thứ năm là chính sách ngân hàng không hợp lý cụ thể như chỉ tập trung huy động một số nguồn nhất định và cho vay những đối tượng nhất định. Cuối cùng, sự mất niềm tin của thị trường: Nếu thị trường mất niềm tin vào ngân hàng, ví dụ như do tin đồn hoặc tin tức xấu, thì có thể khó huy động vốn, dẫn đến mất khả năng thanh toán nhanh các khoản vay khác. Ngoài ra, sự nhạy cảm đối với lãi suất.
Khi lãi suất ngân hàng tăng thì người gửi nhiều hơn và vay ít lại. Người vay tìm cách để tiếp xúc với các nguồn vốn khác bên ngoài thị trường. Tỷ suất lợi nhuận đầu tư tăng thì người gửi tiền có thể rút tiền hoặc hạn chế để đầu tư vào những nơi đem đến lợi nhuận cao hơn. Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân khác như ngân hàng càng lớn thì tính thanh khoản càng thấp (Vodova, 2011), nguồn vốn và lãi cận biên (Delechat và cộng sự, 2012).
Cung cầu thanh khoản Trong lĩnh vực ngân hàng, lý thuyết về cung cầu thanh khoản tập trung vào việc đánh giá và quản lý sự thanh khoản của ngân hàng, đảm bảo khả năng của ngân hàng để đáp ứng yêu cầu rút tiền và giao dịch của khách hàng. Cung thanh khoản trong ngân hàng đề cập đến khả năng của ngân hàng chuyển đổi các tài sản thành tiền mặt hoặc tài sản có thanh khoản cao một cách nhanh chóng và hiệu quả. Các tài sản thanh khoản cao trong ngân hàng bao gồm tiền mặt, các khoản vay ngắn hạn của ngân hàng với các ngân hàng khác, hoặc các công cụ tài chính như chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn. Cung thanh khoản được xem là quan trọng 12 vì nó đảm bảo ngân hàng có khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền và các giao dịch tài chính của khách hàng một cách hiệu quả.
Cầu thanh khoản trong ngân hàng liên quan đến nhu cầu của khách hàng và người gửi tiền để sử dụng dịch vụ ngân hàng và rút tiền mặt từ tài khoản của họ. Cầu thanh khoản phụ thuộc vào mức độ sử dụng dịch vụ ngân hàng, nhu cầu vay vốn và sự tin tưởng vào ngân hàng. Khi cầu thanh khoản tăng, ngân hàng cần có đủ tài sản thanh khoản để đáp ứng nhu cầu rút tiền và giao dịch của khách hàng. Quản lý cung cầu thanh khoản trong ngân hàng là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự cân nhắc giữa việc tối ưu hóa lợi nhuận và đảm bảo khả năng thanh toán và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.