CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁC RỦI RO TTQT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TTQT 1.1 Khái niệm về rủi ro và rủi ro TTQT Có thể nói rủi ro là một vấn đề tồn tại ở khắp mọi lĩnh vực của cuộc sống. Rủi ro hiện diện hầu hết trong mọi hoạt động của con người. Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán chính xác kết quả, và sự hiện diện của mọi rủi ro gây nên sự bất định. Nguy cơ rủi ro sẽ phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hay mất không thể đoán trước.
Một khái niệm về rủi ro khá phổ biến hiện nay là: rủi ro là những biến động tiềm ẩn ở những kết quả. TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu dịch giữa các tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các hãng, các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các hình thức chuyển tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại các ngân hàng. Rủi ro TTQT là những rủi ro về kinh tế phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động TTQT, nó do các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia TTQT (nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, ngân hàng, các tổ chức, cá nhân và các tác nhân trung gian) hoặc những nguyên nhân khách quan khác gây nên.2 Phân loại những rủi ro đặc thù trong TTQT Trong hoạt động kinh doanh, một NH hiện đại thường phải đối mặt với nhiều loại rủi ro. Trong đó có ít nhất là 7 loại rủi ro cơ bản trong hoạt động TTQT: rủi ro kỹ thuật, rủi ro ngoại hối, rủi ro tín dụng, ngân hàng đại lý, rủi ro pháp lý, rủi ro chính trị, rủi ro đạo đức .1 Rủi ro kỹ thuật (rủi ro tác nghiệp) -9- Đây là những rủi ro xảy ra trong quá trình tác nghiệp, mang tính chủ quan, phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng xử lý nghiệp vụ của cán bộ TTQT và sự phối hợp giữa các phòng ban và bộ phận trong ngân hàng.
Những rủi ro kỹ thuật xảy ra tại các ngân hàng phần lớn là do trình độ của cán bộ tác nghiệp. Hậu quả của rủi ro tác nghiệp rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín và tài sản của ngân hàng. Tuy nhiên các rủi ro này hoàn toàn có khả năng phòng tránh.2 Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là những rủi ro phát sinh do việc cấp tín dụng cho các bên liên quan nhưng không có khả năng đòi hoàn trả. Rủi ro tín dụng liên quan trực tiếp đến tình hình tài chính, khả năng thanh toán của các bên.
Trong phạm vi của bản luận văn này chỉ xem xét đến các khoản tín dụng được cấp thông qua nghiệp vụ TTQT. Trong các phương thức TTQT thực hiện qua ngân hàng, có phương thức bảo lãnh và tín dụng chứng từ liên quan trực tiếp đến các rủi ro tín dụng nói trên.3 Rủi ro ngoại hối Có hai nguyên nhân chính gây nên rủi ro hối đoái: Thứ nhất, các NH giao dịch các dòng tiền nước ngoài nhằm phục vụ cho khách hàng và cho chính bản thân mình; thứ hai, các NH đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng ngoại tệ. Cả hai nguyên nhân này tạo ra một xu hướng trạng thái hối đoái mở trong mua bán ngoại hối và trong cơ cấu tài sản bằng ngoại tệ. Rủi ro ngoại hối liên quan đến trạng thái hối đoái mở và tỷ giá hối đoái của một đồng tiền nhất định.
Nếu như trạng thái hối đoái mở là dương (trường) đối với một loại ngoại tệ, mà loại ngoại tệ đó bị giảm giá thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro. Ngược lại, nếu trạng thái hối đoái mở là âm (đoản) và loại ngoại tệ đó lên giá thì ngân hàng cũng gặp rủi ro về tỷ giá. Tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau mà các nhân tố này thường xuyên thay đổi kéo theo sự biến động không ngừng của tỷ giá hối đoái. Cho dù chỉ với một sự thay đổi nhỏ trong tỷ giá hối đoái nhưng khối lượng ngoại hối lớn thì cũng sẽ dẫn đến rủi ro rất lớn, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng phá sản.
Vì vậy các ngân hàng phải luôn tìm cách cân bằng trạng thái hối đoái thực để hạn chế bớt những thiệt hại của rủi ro này. Chúng ta sẽ thấy rằng, nếu tỷ giá biến động càng mạnh thì rủi ro ngoại hối sẽ càng lớn.4 Rủi ro ngân hàng đại lý Khi triển khai hoạt động TTQT, các ngân hàng đều coi nhiệm vụ phát triển quan hệ đại lý ra nước ngoài là một nhiệm vụ trọng tâm, mang tính quyết định cho việc mở cửa hoạt động của ngân hàng. Việc thiết lập và phát triển rộng rãi hệ thống ngân hàng đại lý tạo lòng tin lẫn nhau, giúp cho các ngân hàng thực hiện nghiệp vụ TTQT được thuận tiện, nhanh chóng, giảm chi phí trung gian. Rủi ro ngân hàng đại lý xuất hiện khi: - Ngân hàng giữ tài khoản nostro của một ngân hàng bị phá sản, đóng cửa sẽ là một rủi ro vô cùng nghiêm trọng đối với hoạt động của ngân hàng, thậm chí có thể dẫn đến phá sản theo.
Do vậy, để phân tán rủi ro, các ngân hàng không nên duy trì một tài khoản Nostro duy nhất đối với mỗi loại ngoại tệ giao dịch chính. - Một ngân hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng thông lệ quốc tế, hoặc bị phá sản thì có thể làm ảnh hưởng đến các ngân hàng đại lý của mình. Ví dụ nếu ngân hàng phát hành L/C bị phá sản thì ngân hàng xác nhận gặp rủi ro phải thanh toán thay khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C. Để có thể hạn chế được các rủi ro trong quan hệ đại lý, các ngân hàng cần phải lựa chọn những ngân hàng có uy tín, có năng lực tài chính lành mạnh để thiết lập các quan hệ đại lý.5 Rủi ro pháp lý Rủi ro pháp lý là những rủi ro liên quan đến luật điều chỉnh các hoạt động TTQT, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, luật giải quyết tranh chấp khi có vấn đề khiếu kiện phát sinh.
Vấn đề pháp lý trong hoạt động TTQT cũng là một nội dung quan trọng và rất phức tạp, do các bên liên quan trong hoạt động TTQT ở các quốc gia khác nhau, trong điều kiện môi trường pháp lý và hệ thống luật pháp khác nhau. Trong hệ thống luật pháp điều chỉnh các hoạt động ngoại thương nói chung, hoạt động TTQT nói riêng gồm có luật quốc tế và luật quốc gia. Các tập quán quốc tế này mới chỉ điều chỉnh một số phương thức TTQT nhất định như phương thức nhờ thu, tín dụng chứng từ, bảo lãnh… còn một số phương thức TTQT khác hoàn toàn không có tập quán quốc tế điều chỉnh, ví dụ như chuyển tiền (Remittance), ghi sổ (Open Account), hay uỷ thác mua (Authorise to Purchase). - 11 - Đối với những phương thức thanh toán này, người ta phải áp dụng luật của nước phát hành.
Luật pháp các nước khác nhau dễ gây tranh cãi trong giao dịch, dẫn đến rủi ro. Những tập quán quốc tế chỉ là những quy phạm pháp lý tuỳ ý, không bắt buộc. Do vậy mỗi nước vận dụng các tập quán quốc tế không giống nhau. Ví dụ, UCP 500 do phòng thương mại quốc tế phát hành điều chỉnh phương thức tín dụng chứng từ.
Tuy nhiên, nếu một L/C muốn áp dụng UCP 500 thì phải dẫn chiếu đến UCP trong nội dung của L/C. Mặt khác, các ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng một số điều của UCP cũng như từ chối áp dụng một số điều khác bằng việc miễn trừ trong nội dung của L/C phát hành. Như vậy, mức độ vận dụng UCP vào thực tiễn của từng nước, từng ngân hàng rất khác nhau, tuỳ thuộc vào hệ thống pháp luật nước đó. Luật quốc gia thông thường tôn trọng và ít khi có đối đấu với luật hoặc tập quán quốc tế, nhưng không phải là không có mâu thuẫn.
Nếu có sự khác biệt giữa luật quốc gia và luật quốc tế thì luật quốc gia sẽ được ưu tiên áp dụng. Quan điểm của phòng thương mại quốc tế là các tập quán thương mại quốc tế không thể thay thế luật quốc gia, những tranh chấp nếu có tốt nhất là để cho tòa án xem xét giải quyết. Trên thực tế chưa có một tòa án quốc tế đủ mạnh để áp đặt các chế tài đối với các bên liên quan. Nếu có tranh chấp xảy ra, các bên có thể đưa ra Phòng thương mại quốc tế phân xử.
Tuy nhiên kết luận của Phòng thương mại quốc tế chỉ có tính chất tương đối bởi vì cơ quan này thiếu sức mạnh trong việc yêu cầu các bên thi hành quyết định. Để giải quyết vấn đề đó, các bên có thể thoả thuận đưa ra xét xử tại một toà án quốc gia. Trong trường hợp đó, ít nhất có một bên không am hiểu về luật của nước ngoài nên rất dễ bị thua kiện và gánh chịu rủi ro.6 Rủi ro chính trị Trong trường hợp ngân hàng đầu tư bằng bản tệ cho các công ty nước ngoài có trụ sở ở nước ngoài cũng có thể chịu rủi ro nước ngoài đó là rủi ro quốc gia. Rủi ro quốc gia còn nghiêm trọng hơn cả trường hợp rủi ro tín dụng mà ngân hàng gặp phải khi đầu tư cho các công ty nội địa.
Ví dụ: khi một công ty nội địa không có khả năng hoặc không sẳn lòng hoàn trả vốn vay ngân hàng, ngân hàng là người chủ nợ có quyền tham gia vào qúa trình phân chia tài sản của công ty khi nó phá sản, như vậy chí ít ngân hàng cũng thu hồi lại một phần hay toàn bộ vốn cho vay. Trong trường hợp ngân hàng đầu tư cho các công ty nước ngoài thì ngay trong cả trường hợp các - 12 - công ty có khả năng và sẳn lòng hoàn trả vốn vay, nhưng cũng có thể không thực hiện được bởi vì chính phủ nước này cấm hoặc hạn chế việc thanh toán cho nước ngoài do dự trữ ngoại hối hạn hẹp hay vì lý do chính trị… Ngân hàng lúc này là chủ nợ nhưng có rất ít hoặc không có cơ hội khiếu nại lên toà án địa phương hay toà án quốc tế. Tham gia vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề, có quan hệ với nhiều đối tượng kinh tế của nhiều quốc gia, TTQT chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia.