Chương 1 giới thiệu tổng quan nghiên cứu và giải thích ý nghĩa khi thực hiện luận văn nghiên cứu này. Nội dung của chương bao gồm tóm lượt lý do nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra, Trang 7 chương này cũng thảo luận những đóng góp có được từ kết quả thực nghiệm của nghiên cứu. Chương 2 là chương cơ sở lý thuyết nền tảng thực hiện nghiên cứu, với nội dung của chương này được sử dụng để làm cơ sở, nền tảng của luận văn.
Trong chương này gồm cơ sở lý thuyết về rủi ro thanh khoản và khả năng phá sản Ngân hàng với những nghiên cứu thực nghiệm trước đây về các yếu tố tác động đến rủi ro phá sản Ngân hàng. Thêm vào đó, căn cứ vào những luận điểm, những nghiên cứu đã được lược khảo sẽ làm cơ sở xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất của luận văn trong chương tiếp theo. Chương 3 sẽ đưa ra mô hình và phương pháp nghiên cứu, trong đó nêu rõ cách thức chọn mẫu và đo lường các biến nghiên cứu sẽ được trình bày rõ trong chương này. Chương 4 sẽ trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm và những thảo luận từ kết quả nghiên cứu.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu sẽ được chấp nhận hay bác bỏ. Sau cùng là Chương 5: Trong chương này, các kết quả nghiên cứu chính của chương trước đó sẽ được tóm tắt lại và những đóng góp quan trọng từ kết quả nghiên cứu cũng sẽ được trình bày. Ngoài ra, chương này cũng chỉ ra những giới hạn trong nghiên cứu và khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo. Trang 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 tiến hành nghiên cứu cơ sở lý thuyết liên quan đến luận văn, làm cơ sở, căn cứ cho việc nghiên cứu ở các chương tiếp theo.
Nội dung của Chương 2 tập trung nghiên cứu cơ sở lý thuyết nền về hệ thống lý thuyết về rủi rp thanh khoản, rủi ro phá sản Ngân hàng, đồng thời phát triển giả thiết nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro phá sản Ngân hàng và một số nghiên cứu trước liên quan đến luận văn. Cuối chương 2, tác giả có trình bày phần giả thuyết nghiên cứu của luận văn nghiên cứu.1 Lý thuyết về rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng thương mại 2.1 Định nghĩa rủi ro Theo Duttweiler (2008), rủi ro có thể xảy ra đối với bất kỳ loại hình kinh doanh nào. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về rủi ro như: "Rủi ro trong hoạt động kinh tế nói chung là những tổn thất mà các doanh nghiệp phải gánh chịu trong hoạt động kinh doanh của mình" hoặc "rủi ro là những bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại” nhưng nói chung mọi định nghĩa đều đi tới sự khẳng định "rủi ro là những điều ngoài mong muốn và mang lại hậu quả xấu". Rủi ro có thể gặp bất cứ lúc nào ngoài ý thức của con người.
Chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro ra khỏi môi trường kinh doanh mà chỉ có thể nghiên cứu nó, nhận biết nó và hạn chế nó ở mức thấp nhất có thể Theo quan điểm truyền thống, rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố ảnh hưởng làm tổn thất, gây khó khăn, hoặc điều không chắn chắn xảy ra. Theo quan điểm trung hòa cho rằng, rủi ro là những điều không chắc chắn, hoặc tình trạng bất ổn có thể xảy ra. Tuy nhiên không phải bất kỳ rủi ro nào cũng có thể xảy ra. Rủi ro có thể mang tính tiêu cực, gây tổn thất, nguy hiểm, tuy nhiên bên cạnh đó rủi ro mang đến cơ hội cao hơn.2 Rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng thương mại Kinh doanh trong lĩnh vực Ngân hàng là một trong những loại hình kinh doanh gặp nhiều rủi ro vì Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ.
Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng chịu nhiều rủi ro khác nhau do nguyên nhân khách quan, chủ quan .Tuy nhiên rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng có những điểm khác biệt với các lĩnh vực kinh doanh khác về mức độ và nguyên nhân. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có tính lan truyền và để lại hậu quả to lớn, không chỉ bao gồm rủi ro nội tại của ngành mà còn của tất cả các ngành khác trong nền kinh tế, không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác. Theo Trần Huy Hoàng (2010), NHTM là loại Ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ Ngân hàng cho các đối tượng nói trên. NHTM là ngoại Ngân hàng có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế.
Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế, xã hội đã chứng minh rằng: ở đâu có một hệ thống NTHM phát triển, thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế xã hội và ngược lại. Cũng có thể nói rủi ro là những biến động không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của Ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định (Quản trị Ngân hàng, PGS.TS Trần Huy Hoàng) Theo luật tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa NHTM là loại Ngân hàng thực hiện được tất cả các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trang 10 NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, vì lĩnh vực kinh doanh của NHTM khác so với các loại hình còn lại. Sản phẩm kinh doanh của NHTM là tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ khác của Ngân hàng.
Sản phẩm này liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, lĩnh vực kinh doanh khác trong xã hội và cả đến đời sống kinh tế. Vì sản phẩm kinh doanh là tiền tệ nên lĩnh vực Ngân hàng rất nhạy cảm, đòi hỏi sự cẩn thận, chính xác. Nếu sai, không những ảnh hưởng trong ngành Ngân hàng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế. Đặc trưng cơ bản trong kinh doanh NHTM là kinh doanh tiền gửi.
Trên thị trường tài chính, NHTM là tổ chức trung gian tài chính, phân phối vốn huy động trong xã hội đến những người có nhu cầu chi tiêu và đầu tư. NHTM là nơi kinh doanh tiền gử dựa trên niềm tin của người gửi tiền, do đó tính nhạy cảm rất cao và luôn chịu sự giám sát chặt chẽ từ pháp luật. Chỉ cần một biến động nhỏ có thể gây tác động đến kinh doanh Ngân hàng (có thể thay đổi về lãi suất, thay đổi chính sách sản phẩm trong nội tại Ngân hàng). Nếu Ngân hàng hoạt động tốt, sẽ góp phần tiết kiệm các nguồn lực, tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế.
Trường hợp ngược lại, hoạt động kinh doanh Ngân hàng không ổn định, không tạo ra lợi nhuận, thường xuyên lỗ gây nên tổn thất cho nền kinh tế, nặng nề hơn là sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các đối tượng liên quan. Vì thế, khi Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến người gửi tiền. Sự phá sản Ngân hàng không chỉ đơn thuần có cá nhân Ngân hàng đó, mà nó còn ảnh hưởng dây chuyền, lây lan đến nền kinh tế, cho nên việc giám sát chặt chẽ, thường xuyên bằng luật định trong hệ thống Ngân hàng là cần thiết. Sự giám sát này được hiểu là quản trị rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng.
Theo Nguyễn Thị Mùi (2006), Quản trị Ngân hàng thương mại, khi đề cập đến rủi ro người ta thường đề cập đến hai yếu tố mang tính đặc trưng: + Biên độ rủi ro: thể hiện mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra. Trang 11 + Tấn suất xuất hiện rủi ro = KP/P KP: số trường hợp thuận lợi để rủi ro xuất hiện. P: Số trường hợp đồng khả năng. Theo Trần Huy Hoàng (2010), quản trị rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng gồm có các bước: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát – phòng ngừa rủi ro, tài trợ rủi ro.
Với những bước trong quản trị rủi ro như vậy, cần phải phân biệt các loại rủi ro để có biện pháp giảm thiểu tổn thất do rủi ro gây ra. Sự phá sản Ngân hàng đó là sự tác động của những rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng gây nên. Rủi ro này bao gồm rủi ro nội tại Ngân hàng, rủi ro ngành, và cả rủi ro của tất cả các ngành khác trong nền kinh tế. Những rủi ro thường gặp như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro hối đoán, rủi ro phá sản, rủi ro hoạt động … 2.3 Các loại rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng thương mại - Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi một hoặc các bên tham gia hợp đồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại.
Đối với NHTM, rủi ro tín dụng phát sinh khi Ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi vay của các khoản vay. Hoặc là việc thanh toán của khách hàng không đúng hạn. Rủi ro tín dụng không chỉ xảy ra ở hoạt động cho vay mà còn nhiều hoạt động khác của NHTM như hoạt động bảo lãnh, tài trợ, cho thuê tài chính. Rủi ro tín dụng là muôn hình vạn trạng, rủi ro tiềm ẩn trong suốt chu kỳ sống của một khoản vay, và biểu hiện ra bên ngoài là khoản vay không thu hồi được, nợ quá hạn, nợ khó đòi, mất vốn… Mức độ rủi ro tín dụng thường được đánh giá qua chỉ tiêu như: tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ, Tỷ lệ nợ Trang 12 khó đòi/Tổng dư nợ quá hạn.
Các chỉ tiêu này càng nhỏ thể hiện chất lượng tín dụng của Ngân hàng càng cao và rủi ro tín dụng càng thấp. Nguyên nhân chính gây nên rủi ro tín dụng thường do người vay vốn mất tính thanh khoản, lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, không đủ khả năng thanh toán nợ. Thứ nhất có thể kể đến việc hạn chế thông tin về khách hàng dẫn đến có những khoản vay kinh doanh kém hiệu quả nhưng vẫn được giải ngân cho khách hàng, trong khi khách hàng không có đủ khả năng trả nợ.