CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO, RỦI RO TÁC NGHIỆP VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG 1. RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG 1. Khái niệm rủi ro Rủi ro là gì? Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro. Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau.
Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn: trường phái truyền thống và trường phái hiện đại. Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm. Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến. Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến.
Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. Theo trường phái hiện đại, rủi ro (risk) là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại nhũng lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai.
5 Theo tài liệu s s c ( State Security Commission of Viet Nam) cung cấp sử dụng trong hội thảo “Quản trị rủi ro đối với Ngân hàng thuơng mại” tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 4 -5/8/2006 thì định nghĩa: “ Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là khả năng một hành động hoặc một sự kiện nào đó có thể đem lại những kết quả bất lợi ảnh huởng trực tiếp đến nguồn thu nhập hay nguồn vốn của tổ chức hoặc tạo ra các trở ngại ngăn cản tổ chức tiếp tục kinh doanh và tận dụng cơ hội tạo ra lợi nhuận”. Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Cũng như các lĩnh vực kinh doanh khác, để đạt được lợi nhuận thì cũng phải đổi mặt với rất nhiều rủi ro và lĩnh vực ngân hàng cũng chứa đựng nhiều loại rủi ro. Chúng ta có thể xem xét đến rủi ro trong kinh doanh ngân hàng theo 5 nhóm rủi ro như sau: 1. Rủi ro tín dụng Rủi ro thất thoát tài chính có thể phát sinh khi khách hàng hoặc đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ trong họp đồng đối với ngân hàng.
Rủi ro tín dụng có thể phát sinh trong các hoạt động cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng. Biểu hiện của rủi ro tín dụng khi khách hàng không hoàn trả gốc và lãi đúng hạn, hoặc ngân hàng phải trả thay khách hàng trong các hợp đồng cam kết bảo lãnh. Hoặc khi ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi của các khoản cho vay, hoặc không thu được các khoản trả thay cho khách hàng. Rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất ngân hàng là rủi ro khả năng giảm sút lợi nhuận hoặc giảm sút về giá trị ròng của ngân hàng do lãi suất gây ra.
Khi lãi suất tăng, cả thu nhập và chi phí đều tăng. Nhưng nếu thu nhập tăng ít hơn chi phí -> Rủi ro lãi suất ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng. Hoặc khi lãi suất giảm, thu nhập và chi phí đều giảm, nhưng thu nhập giảm nhiều hơn chi phí cũng là một 6 biếu hiện của rủi ro lãi suất đến thu nhập của ngân hàng. Các loại rủi ro lãi suất bao gồm: Rủi ro về giá, rủi ro tái tài trợ.
Rủi ro về giá phát sinh khi lãi suât thị trường tăng làm giảm giá trị của trái phiếu và cá khoản cho vay với lãi suất cố định Ngân hàng nắm giữ. Rủi ro tái tài trợ bao gồm rủi ro tái đầu tư tài sản, là rủi ro khi lãi suất thị trường giảm, ngân hàng phải chấp nhận đàu tư các nguồn vốn của mình vào các tài sản có mục đích sinh lời thấp hơn. Rủi ro tái tài trợ nguồn vốn khi lãi suất thị trường tăng, ngân hàng phải huy động nguồn vốn với các mức chi phí cao hơn. Rủi ro hổi đoái Rủi ro hối đoái là khả năng thiệt hại đối với ngân hàng do sự biến động của tỷ giá hối đoái gây ra.
Khi ngân hàng không duy trì trạng thái cân xứng giữa tài sản CÓ và tài sản NỢ về ngoại tệ • Trạng thái ngoại tệ trường (TSC > TSN): ngoại tệ giảm giá -> NH lỗ • Trạng thái ngoại tệ đoản (TSC < TSN): ngoại tệ tăng -> NH lỗ 1. Rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản xảy ra khi có nhu cầu thanh toán, chi trả của ngân hàng phát sinh ngoài dự tính của ngân hàng. Biểu hiện của rủi ro thanh khoản được thể hiện trong các trường hợp: Chi phí của ngân hàng gia tăng khi phải vay bổ sung nguồn vổn hoặc bán tài sản. Hoặc ngân hàng phải đổi mặt với khả năng phá sản khi thiệt hại của ngân hàng quá lớn, hoặc nhu cầu rút tiền quá lớn.
Các loại rủi ro ngân hàng khác Rủi ro hoạt động (rủi ro tác nghiệp): Rủi ro tác nghiệp là những rủi ro phát sinh do hệ thống thông tin không hiệu quả, do sai sót kỹ thuật, những sai phạm trong kiểm soát nội bộ, những biến cố không định trước hay những vấn đề hoạt động khác có thể dẫn đến mất mát không định trước hay những vấn đề về danh tiếng 7 Rủi ro môi trường: là những rủi ro xuất hiện do có sự thay đổi của môi trường hoạt động. Rủi ro công nghệ, rủi ro quốc gia, rủi ro pháp lý, rủi ro uy tín. Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Theo ủy ban Basel về giám sát ngân hàng: “ Quản trị rủi ro là một quả trình liên tục cần được thực hiện ở mọi cấp độ của một tổ chức tài chính và yêu cầu bắt buộc để các tổ chức tài chính có thể đạt được các mục tiêu đề ra và duy trì khả năng tồn tại và sự minh bạch về tài chính ” [1J. Quản trị rủi ro là hệ thống cơ bản của một tổ chức tài chính, bao gồm tất cả các hoạt động, tác động đến các loại rủi ro của tổ chức đó.
Quản trị rủi ro liên quan đến việc xác định, đo lường, giám sát, kiểm soát, quản lý rủi ro nhằm đảm bảo: > Các cá nhân liên quan đến rủi ro và có trách nhiệm quản lý rủi ro phải hiểu rõ về rủi ro. > Rủi ro của một ngân hàng nằm trong giới hạn xác định bởi Hội đồng quản trị. > Rủi ro trong việc quyết định phải tương xứng với mục tiêu và chiến lược kinh doanh do hội đồng quản trị đề ra. > Quỹ dự phòng bù đắp được các loại rủi ro dự kiến sẽ xảy ra.
> Có đủ vốn để bù đắp rủi ro. Hoạt động quản trị rủi ro nhằm mục đích xác định, đo lường và kiểm soát rủi ro ở mức có thể chấp nhận được. Hoạt động quản trị rủi ro hiệu quả có thê cho phép Ngân hàng đạt được tương quan họp lý giữa rủi ro mà Ngân hàng mong muốn (ở mức chấp nhận được) với rủi ro mà Ngân hàng muốn giảm thiểu. Khi rủi ro được kiểm soát hợp lý thì ngân hàng sẽ có điều kiện tốt đa hóa lợi ích thu được từ những rủi ro đó thông qua nhiều cách như chấp nhận, giảm nhẹ, loại bỏ, hay chuyển đổi rủi ro.
RỦI RO TÁC NGHIỆP 1. Khái niệm rủi ro tác nghiệp RRTN là những rủi ro phát sinh do hệ thống thông tin không hiệu quả, do sai sót kỹ thuật, những sai phạm trong kiểm soát nội bộ, những biến cổ không định trước hay những vấn đề hoạt động khác có thể dẫn đến mất mát không định trước hay những vấn đề về danh tiếng. Phạm vi và thời gian xảy ra những RRTN rất rộng lớn, nó có thể xây ra bất kì lúc nào trong bất kỳ khoảng thời gian hoạt động nào của ngân hàng. Theo Basel II: RRTN là nguy cơ xảy ra ton thất trực tiếp hay gián tiếp do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc thất bại hay do các sự kiện bẽn ngoài [1].
Phân loại rủi ro tác nghiệp Căn cứ theo định nghĩa về RRTN mà Basel II thì ta có thể phân RRTN thành 02 loại, đó là RRTN phát sinh từ trong nội bộ ngân hàng và RRTN phát sinh do các yếu tố bên ngoài 1. RR TN phát sinh từ trong nội bộ ngăn hàng - Rủi ro liên quan đến mô hình tổ chức, cán bộ và an toàn nơi làm việc là các rủi ro phát sinh do các nguyên nhân: + Lựa chọn mô hình tổ chức, mô hình giao dịch không phù họp. + Tuyển dụng, bổ trí, đào tạo, sắp xếp, quy hoạch bổ nhiệm hay các chế độ đối với người lao động không phù hợp. + Không bổ trí đảm bảo an toàn nơi làm việc cho cán bộ nhân viên.
- Rủi ro liên quan đến cơ chế, chính sách, quy định là các rủi ro xuất phát từ những nguyên nhân như: + Không có, thiếu hoặc quy định chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ, chưa cụ thể, có kẽ hở tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng, gây tổn thất cho ngân hàng. + Những văn bản, quy định có sự chồng chéo, hoặc không thể thực 9 hiện, những bất hợp lý, gây khó khăn cho người thực hiện. + Những văn bản, quy định có nội dung chưa đúng với cơ chế chính sách; quy định của pháp luật hiện hành. - Rủi ro liên quan đến gian lận nội bộ xuất phát từ những nguyên nhân do các cán bộ tự thực hiện hoặc cấu kết với khách hàng/người bên ngoài để thực hiện các hoạt động phạm pháp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của khách hàng hoặc ngân hàng, huỷ hoại uy tín của ngân hàng.
- Rủi ro liên quan đến gian lận bên ngoài là các rủi ro phát sinh do các hành động cổ ý định gian lận, biển thủ tài sản, không tuân thủ pháp luật nhằm chiếm đoạt tài sản ngân hàng của khách hàng.