Chương 1 tác giả đã trình bày sơ lược về tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, những vấn đề cần được giải quyết và những đóng góp mà nghiên cứu đem lại. Tiếp nối chương 2 tác giả sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết phục vụ cho đề tài nghiên cứu và những công trình nghiên cứu trước đây có liên quan tới vấn đề nghiên cứu để làm cơ sở phát triển mô hình nghiên cứu của khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Tổng quan về chính sách tiền tệ 2.
Khái niệm CSTT là một công cụ tài chính vĩ mô do NHTW thực hiện để điều tiết lượng tiền trong lưu thông qua các công cụ của mình nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Chính phủ như kiềm chế lạm phát, duy trì tỷ giá, tăng trưởng kinh tế bền vững, tạo công ăn việc làm, đạt mức toàn dụng lao động và các mục tiêu khác. Những thay đổi của CSTT có thể gián tiếp hoặc trực tiếp dẫn đến những thay đổi của một số yếu tố trong nền kinh tế. Trên thực tế, khi muốn tăng trưởng kinh tế, NHTW có thể tăng cung tiền nhằm hạ lãi suất để thúc đẩy hoạt động kinh tế; ngược lại, khi muốn hạn chế tăng trưởng kinh tế, giảm lạm phát, NHTW tác động giảm cung tiền làm tăng lãi suất, giảm đầu tư. Theo Levy Yeyati và Sturzenegger (2010) phát biểu rằng CSTT là quá trình quản lý cung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ, thường hướng tới một mức lãi suất mong muốn để đạt được mục đích ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế.
Theo Luật số 46/2020/QH12 của Quốc hội: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010): “Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra.” Khi bàn đến CSTT, có hai vấn đề cần xem xét: CSTT mở rộng: G > T, nhằm tăng lượng cung tiền trong nền kinh tế, khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh và tạo việc làm. Trường hợp này CSTT nhằm chống suy thoái kinh tế và thất nghiệp. CSTT thắt chặt: G < T, nhằm giảm lượng cung tiền trong nền kinh tế, thắt chặt chi tiêu của Chính phủ, hạn chế đầu tư và sự phát triển quá nóng của nền kinh tế. Trường hợp này CSTT kìm chế lạm phát.
Hệ thống mục tiêu Hệ thống mục tiêu của CSTT bao gồm: mục tiêu cuối cùng, mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động. Trong đó mục tiêu cuối cùng là đích đến cuối cùng khi điều hành CSTT. Tuy nhiên, các công cụ CSTT mà NHTW sử dụng chỉ có thể tác động đến các mục tiêu cuối cùng sau một khoảng thời gian nhất định, thường là dài hơn 1 năm. Mục tiêu cuối cùng Theo Mishkin and Eakins (2018), mục tiêu cuối cùng được các NHTW đề cập bao gồm: ổn định giá cả, tỷ lệ làm việc cao, tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tài chính, ổn định lãi suất và ổn định tỷ giá ngoại hối đoái.
Ổn định giá cả: Lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của xã hội. Mankiw (2023) đã liệt kê 6 loại chi phí của lạm phát bao gồm: (i) chi phí mòn giày, tức là sự lãng phí nguồn lực khi lạm phát khuyến khích dân chúng giảm việc nắm giữ tiền; (ii) chi phí thực đơn, tức chi phí thay đổi do giá cả; (iii) sự gia tăng biến đổi của mức giá tương đối và phân bổ sai nguồn lực; (iv) những thay đổi không dự tính trước đối với nghĩa vụ thuế; (v) sự nhầm lẫn và bất tiện do thay đổi đơn vị tính toán gây ra; (vi) sự phân phối lại của cải tuỳ ý. Trên cơ sở nhận thức được tác động tiêu cực của lạm phát đến nền kinh tế, nhiều NHTW xem việc ổn định giá cả, hay nói cách khác là lạm phát ở mức độ thấp và ổn định, là mục tiêu quan trọng hàng đầu của CSTT. Tỷ lệ làm việc cao: khi thực thi CSTT tác động tăng cung tiền giúp mở rộng quy mô nền kinh tế, các doanh nghiệp tăng cường sản xuất sẽ cần nhiều nhân công hơn, từ đó tạo ra nhiều việc làm cho người dân, giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Tuy nhiên việc tăng cung tiền đi kèm với chất nhận một tỷ lệ lạm phát nhất định. Một điều cần lưu ý là mục tiêu tỷ lệ việc làm cao không đồng nghĩa với tỷ lệ thất nghiệp bằng 0, mà là duy trì ở mức thất nghiệp tự nhiên. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được cấu thành từ tỷ lệ thất nghiệp tạm thời và tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu, trong đó tỷ lệ thất nghiệp tạm thời xuất hiện do người lao động cần có thời gian để tìm kiếm công việc phù hợp; tỷ lệ 9 thất nghiệp cơ cấu là sự không phù hợp giữa yêu cầu của việc làm và kỹ năng lao động sẵn có của lực lượng lao động (Madura, 2014). Tăng trưởng kinh tế: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ việc làm cao có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Tăng trưởng kinh tế góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, ngược lại nó cũng phụ thuộc vào tỷ lệ làm việc cao đến mức nào. Khi nhiều người lao động không có việc làm, nhiều nhà máy đóng cửa, doanh nghiệp không có động lực để đầu tư xây dựng thêm nhà xưởng hay mua sắm thêm máy móc thiết bị. Ngược lại, khi tỷ lệ làm việc cao, doanh nghiệp có khả năng đầu tư càng nhiều vốn để tăng năng suất lao động và thúc đẩy phát triển kinh tế. CSTT với những công cụ của mình có thể đạt được mục tiêu kích thích tăng trưởng kinh tế bằng cách khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân.
Ổn định thị trường tài chính: Thị trường tài chính được thực hiện chức năng dẫn vốn từ các chủ thể tạm thời thừa vốn sang các chủ thể tạm thời thiếu vốn, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả của nền kinh tế. Ổn định thị trường tài chính, tránh nguy cơ rơi vào khủng hoảng tài chính do đó là mục tiêu quan trọng đối với một NHTW. Ổn định lãi suất: Lãi suất là biến số vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng và đầu tư của hộ gia đình và doanh nghiệp. Đồng thời, sự biến đổi lãi suất cao cũng gây khó khăn trong việc quản lý rủi ro cho các trung gian tài chính và gây ảnh hưởng đến các định chế tài chính.
Như vậy, thị trường tài chính có ổn hay không, nền kinh tế có tăng trưởng tốt hay không, điều này phụ thuộc rất lớn vào sự ổn định của lãi suất (Cecchetti & Schoenholtz, 2015). Ổn định tỷ giá hối đoái: Trong bối cảnh các quốc gia ngày càng hội nhập nền kinh tế thế giới, các luồng hàng và tiền vốn được chuyển đổi giữa đồng nội tệ và ngoại tệ. Duy trì ổn định tỷ giá sẽ giúp cho các hoạt động ngoại thương trở nên hiệu quả và trơn tru hơn. Thế nên tỷ giá hối đoái đang ngày càng khẳng định được sức ảnh hưởng mạnh mẽ của mình đối với nền kinh tế.
Do đó nhiệm vụ của NHTW là sử dụng những công cụ CSTT để can thiệp giữ cho tỷ giá hối đoái không tăng và cũng không 10 giảm quá đáng kể, làm dịu bớt những tình trạng bất ổn định của nền kinh tế trong nước. 6 mục tiêu của CSTT được nêu trên sẽ tuỳ thuộc vào từng diễn biến của nền kinh tế mà NHNN sẽ chọn ra các mục tiêu phù hợp cho từng giai đoạn. Mục tiêu trung gian Các mục tiêu trung gian nằm giữa các công cụ CSTT và mục tiêu cuối cùng, chúng có tác động trực tiếp đến các mục tiêu cuối cùng, nhưng không chịu tác động trực tiếp bởi các công cụ CSTT. Các tiêu chuẩn để NHTW các nước lựa chọn mục tiêu trung gian là: có thể đo lường được, có thể kiểm soát được và có ảnh hưởng có thể dự đoán được các mục tiêu cuối cùng.
Trên cơ sở đó, mục tiêu trung gian thường được các NHTW lựa chọn về khối tiền (M1, M2, M3) hoặc về giá là lãi suất (ngắn hạn hoặc dài hạn). Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh mà NHNN có thể chọn lãi suất hoặc tổng lượng tiền để làm mục tiêu trung gian nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng của CSTT. Tuy nhiên, NHTW không thể sử dụng cùng lúc cả hai mục tiêu cung tiền và lãi suất làm mục tiêu trung gian vì lựa chọn cung tiền làm mục tiêu sẽ không kiểm soát được lãi suất và ngược lại (Mishkin, 2012). Mục tiêu hoạt động Do các biến số làm mục tiêu trung gian không phản ứng ngay lập tức trước sự thay đổi chính sách nên NHTW phải thiết lập các mục tiêu hoạt động, chịu tác động trực tiếp bởi các công cụ chính sách.
Mục tiêu hoạt động được lựa chọn phải đáp ứng những tiêu chí sau: có thể đo lường được, có thể kiểm soát được, phản ứng không chậm trễ dưới tác động của công cụ CSTT và có mối quan hệ mật thiết với mục tiêu trung gian. Theo đó, các biến số thường được lựa chọn làm mục tiêu hoạt động là tiền cơ sở hay các loại lãi suất như lãi suất liên ngân hàng, lãi suất tín phiếu kho bạc. Các công cụ phổ biến mà NHTW thường sử dụng là dự trữ bắt buộc, chính sách chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở. Công cụ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện CSTT quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ.
• Chính sách chiết khấu (tái cấp vốn) – The discount policies Là hình thức cấp tín dụng của NHNN nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng. Trong đó cho vay tái cấp vốn hay gọi là chính sách chiết khấu là công cụ được NHTW sử dụng làm công cụ CSTT với mục tiêu điều hoà cung tiền quốc gia. NHNN quy định và thực hiện việc tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng theo các hình thức sau đây: Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, chiết khấu giấy tờ có giá và các hình thức tái cấp vốn khác. • Lãi suất – Interest rate NHNN công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành CSTT, chống cho vay nặng lãi.