CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KỶ LUẬT THỊ TRƯỜNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm Kỷ luật thị trường 1. Khái niệm Kỷ luật thị trường là một trong ba trụ cột chính trong khuôn khổ an toàn vốn của Hiệp định Basel. Theo Berger (1991), kỷ luật thị trường có thể được mô tả như là tình huống trong đó người gửi tiền yêu cầu lãi suất cao hơn hoặc rút tiền gửi.
Điều này có thể hiểu là khi có kỷ luật thị trường, người gửi tiền yêu cầu ngân hàng có độ rủi ro cao sẽ phải chi trả tiền lãi cao, nếu không thì người gửi tiền sẽ rút tiền gửi của mình từ ngân hàng có độ rủi ro cao chuyển sang ngân hàng có độ rủi ro thấp. Lane (1993), kỷ luật thị trường có nghĩa là thị trường tài chính cung cấp các tín hiệu khiến người đi vay hành xử phù hợp với khả năng thanh toán của họ. Cụ thể hơn đối với các ngân hàng, kỷ luật thị trường là tình huống xảy ra khi các ngân hàng không thể cho vay với lợi tức kỳ vọng thấp hơn chi phí vốn, và họ cũng không thể tiếp tục tiếp cận các khoản tiền gửi một khi mất khả năng thanh toán. Theo BIS (2006), trong Hiệp ước Basel II, trụ cột thứ ba- kỷ luật thị trường là việc các ngân hàng phải công khai thông tin phù hợp theo nguyên tắc thị trường từ thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và quy trình đánh giá của ngân hàng với từng loại rủi ro này.
Trong các nghiên cứu mới đây, theo Nguyễn Chí Đức và cộng sự (2012), kỷ luật thị trường chính là sự nhấn mạnh sự công khai minh bạch thông tin kinh doanh của các NHTM, cho phép người tham gia thị trường đánh giá các thông tin chủ chốt và độ rủi ro của các NHTM. Nghiên cứu của Deniz Anginer và Ata Can Bertay (2019) cũng cho rằng kỷ luật thị trường là việc đề cập đến quá trình mà các bên tham gia thị trường, chẳng hạn như người gửi tiền và cổ đông, giám sát rủi ro của ngân hàng và thực hiện hành động để hạn chế việc chấp nhận rủi ro quá mức. Cụ thể, nếu những người có lợi ích liên quan cho rằng rủi ro kinh doanh của một NHTM khá cao, người 10 gửi tiền và người nắm giữ trái phiếu NH đó sẽ yêu cầu NH trả lãi suất tiền gửi cao hơn hoặc là sẽ rút tiền gửi ra khỏi NH đó. Gần đây nhất, theo Bùi Thị Kim Hạnh và cộng sự (2023), kỷ luật thị trường được xây dựng trên cơ sở giả thiết rằng: Ngân hàng có lãi suất cao thường có rủi ro cao.
kỷ luật thị trường áp đặt những điều kiện và giới hạn về mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng buộc các ngân hàng phải có trách nhiệm và nghiêm túc trong hoạt động quản trị rủi ro. Như vậy, kỷ luật thị trường được định nghĩa là một trong ba trụ cột chính của hiệp định vốn Basel. Tại trụ cột này, các ngân hàng sẽ được yêu cầu công khai thông tin tập trung vào các thông số quan trọng của hồ sơ kinh doanh của họ, nguy cơ rủi ro và quản lý rủi ro. Điều này sẽ cho phép những người tham gia thị trường đánh giá và giám sát những thông tin quan trọng về phạm vi áp dụng, vốn, mức độ rủi ro, quy trình quản lý, và quản lý vốn chủ sở hữu.
Vai trò của kỷ luật thị trường Trong những năm gần đây, nhiều thách thức đặt ra cho các ngân hàng là vừa có sự tăng trưởng về lợi nhuận, vừa đảm bảo hoạt động kinh doanh an toàn. Do đó, việc củng cố sự ổn định của thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Việc thực hiện và phát huy kỷ luật thị trường ngày càng được quan tâm, đặc biệt trong việc đảm bảo tính minh bạch và an toàn cho hệ thống các ngân hàng. Theo đó, kỷ luật thị trường có những vai trò như sau: Đối với ngân hàng: Thứ nhất, kỷ luật thị trường giúp làm giảm mức độ chấp nhận rủi ro (giảm khẩu vị rủi ro), đặc biệt là rủi ro đạo đức của các ngân hàng thông qua việc giám sát và trừng phạt việc lấy rủi ro quá mức của các NHTM.
Điều này giúp các ngân hàng hoạt động an toàn và có nền khách hàng vững chắc hơn. Đồng thời, nền khách hàng được cải thiện giúp ngân hàng phát triển bền vững và có lợi nhuận ổn định hơn. Thứ hai, kỷ luật thị trường có thể lành mạnh hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động cho các NHTM, đặc biệt là các ngân hàng hoạt động kém hiệu quả. Berger (1991) chỉ ra rằng bằng việc tạo áp lực lên các ngân hàng hoạt động chưa hiệu quả, 11 kỷ luật thị trường giúp ngân hàng trở nên hiệu quả hơn hoặc rời khỏi ngành nếu không đáp ứng được các quy định đưa ra.
Thứ ba, kỷ luật thị trường có thể làm tăng hiệu quả của quá trình giám sát tổng thể (Flannery, 1998). Cụ thể, một số bằng chứng thực nghiệm của các nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng việc giám sát hiệu quả hơn dựa trên kết hợp dựa trên thông tin về bảng xếp hạng tín dụng các công ty tài chính và các thông tin bên trong có được bằng quy trình giám sát. Đối với những bên liên quan Kỷ luật thị trường bổ sung cho hai trụ cột đầu trong khung hiệp định Basel cho phép các thành viên thị trường hiểu được mối liên hệ giữa rủi ro và vốn ngân hàng. Lý thuyết kỷ luật thị trường 1.
Lý thuyết các bên liên quan Lý thuyết các bên liên quan được khởi nguồn từ nghiên cứu của Freman (1984) về quản trị tổ chức và đạo đức kinh doanh “ Quản trị chiến lược: Cách tiếp cận từ các bên liên quan”. Theo đó, bên liên quan của một tổ chức là một nhóm người hay cá nhân bất kì có tác động lên hay bị tác động bởi kết quả và quá trình đạt được mục tiêu của tổ chức đó. Lý thuyết các bên liên quan cho rằng tổ chức có nghĩa vụ phải đối xử công bằng giữa các bên liên quan, trong trường hợp các bên liên quan có xung đột lợi ích, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ đạt được sự cân bằng tối ưu giữa chúng. Như vậy, lý thuyết các bên liên quan đề cập tới tính bền vững của doanh nghiệp, bao gồm hành vi phù hợp và không phù hợp của công ty cũng như hành vi của các bên liên quan (Driver & Thompson, 2002).
Khi lý thuyết các bên liên quan quan tâm đến bản chất của những tương tác về cả quá trình và kết quả, Freeman (2001) lập luận rằng mạng lưới các mối quan hệ với nhiều nhóm có thể tác động đến việc ra quyết định của công ty và các chi nhánh của nó. Bên cạnh đó, lý thuyết này, theo Donaldson & Preston (1995), miêu tả các nhà quản lý với vai trò là những cá thể quan tâm đến lợi ích hợp pháp của tất cả các bên liên quan cả trong việc thiết lập cơ cấu tổ chức cũng như trong việc ra quyết định trong từng trường hợp cụ thể. Ngoài ra, các nhà quản lý còn quan tâm đến việc cân bằng và thúc đẩy lợi ích của các bên liên quan. 12 Xuất phát từ lý thuyết này, đứng trên góc độ của Ngân hàng, những người có liên quan đến ngân hàng như người gửi tiền là những người sẽ áp dụng kỷ luật thị trường đối với ngân hàng.
Người gửi tiền có thể phản hồi những thông tin có sẵn cho thấy rằng ngân hàng gặp khó khăn khi giảm cung tiền của họ trong tài khoản tiền gửi. Do đó, từ lý thuyết này, có thể thấy sự hiện diện của thị trường kỷ luật xét từ góc độ của người gửi tiền. Lý thuyết kỷ luật người gửi tiền tiêu chuẩn Lý thuyết này cho rằng hành vi của người gửi tiền bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong hồ sơ rủi ro của ngân hàng do ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế và quản trị cơ bản. Trong giả thuyết này, các ngân hàng được coi là trở nên rủi ro hơn (hoặc lành mạnh hơn) do những thay đổi đến từ môi trường hoạt động bên ngoài.
Điều này có nghĩa là những người gửi tiền e ngại rủi ro sẽ bắt đầu rút tiền của họ khi thấy tín hiệu rủi ro và ngược lại, người gửi tiền dự đoán triển vọng nền kinh tế tốt hơn trong tương lai, họ sẽ tăng cường gửi tiền vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi cao. Lý thuyết kỷ luật người gửi tiền tiêu chuẩn này được sử dụng rộng rãi để kiểm tra tác động của những thay đổi rủi ro trong ngân hàng đối với hành vi của người gửi tiền (Soledad & cộng sự, 2001; Karas & cộng sự, 2010; Demirguç-Kunt & Huizinga, 2004 ). Mặt khác, quy luật cung cầu đứng đằng sau giả thuyết kỷ luật thị trường. Trên thị trường ngân hàng, những hành vi rủi ro của một ngân hàng cụ thể có thể làm thay đổi sự ưu tiên của người gửi tiền bởi lẽ những người gửi tiền có thể làm dịch chuyển đường cung tiền gửi khi yêu cầu lãi suất cao hơn cho khoản tiền gửi hoặc khoản rút tiền.
Điều này đồng nghĩa với việc khi những người gửi tiền cho rằng rủi ro kinh doanh của một ngân hàng là khá cao, họ sẽ yêu cầu trả lãi suất tiền gửi cao hơn hoặc rút tiền gửi ra khỏi ngân hàng đó. Điều này gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới chi phí và năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Do đó, ngân hàng nên điều chỉnh mức độ chấp nhận rủi ro của mình một cách hợp lý. Tóm lại, kỷ luật thị trường thể hiện hai khía cạnh: khả năng giám sát tình trạng của ngân hàng và khả năng tác động lên hành động của ngân hàng, nói cách khác là giám sát thị trường và ảnh hưởng của thị trường (Flannery, 2001).
Trên thị trường 13 tiền gửi, các cơ chế của người gửi tiền sử dụng để điều chỉnh hành vi rủi ro của ngân hàng là: Thứ nhất, cơ chế dựa trên giá: người gửi tiền yêu cầu lãi suất tiền gửi cao hơn với ngân hàng có rủi ro lớn hơn. Họ quan niệm rằng, rủi ro lớn thì cần lợi nhuận lớn hơn. Thứ hai, cơ chế dựa trên số lượng: người gửi tiền rút tiền của họ như một phản ứng đối với hành vi rủi ro. Cụ thể, người gửi tiền sẽ rút tiền gửi của mình ra khỏi các ngân hàng có rủi ro cao.