Chương 1 tác giả trình bày ngắn gọn tính cấp thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu, qua đó xác định mục tiêu và đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ nhân quả giữa ổn định tài chính, cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các NHTM giai đoạn 2007-2015. Định hướng phương pháp phân tích sử dụng để xây dựng mô hình hồi quy, phân tích tương quan và phân tích hồi quy tuyến tính mô hình dữ liệu bảng bằng phần mềm STATA 12 sử dụng các hiệu ứng REM, FEM và Pooled OLS để phân tích, kiểm định mô hình mối quan hệ giữa ổn định tài chính, cạnh tranh và hiệu quả tại các ngân hàng thương mại Việt Nam cho dữ liệu chuỗi thời gian dạng bảng. Cuối cùng tác giả khái quát lại một số ý nghĩa thực tiễn của đề tài và kết cấu các chương trong luận văn. 5 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH, HIỆU QUẢ VÀ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH 2.
Tổng quan về cạnh tranh 2. Khái niệm Đề cập đến cạnh tranh trong điều kiện nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, K. Mark đã đưa ra khái niệm: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch”. Như vậy, khi nghiên cứu cạnh tranh trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, Mark đã coi cạnh tranh là cuộc giành giật các lợi thế để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Tuy nhiên, cũng trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, cuốn sách “Từ điển kinh doanh” (xuất bản năm 1992, tại Anh) lại đưa ra khái niệm: “Cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình” để đề cập tới sự cạnh tranh ở thị trường các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp. Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus (2006) trong cuốn Kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng “Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các DN cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường”. Họ còn đồng nhất cạnh tranh với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition). Theo lý thuyết tổ chức doanh nghiệp công nghiệp thì một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh và đánh giá nó có thể đứng vững cùng với các nhà sản xuất khác, với các sản phẩm thay thế, hoặc bằng cách đưa ra các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn cho sản phẩm cùng loại, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm có cùng đặc tính nhưng với dịch vụ ngang bằng hay cao hơn.
Một định nghĩa khác về cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh có thể định nghĩa như là một khả năng của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài và có lợi nhuận” (Nguyễn Thị Như Liêm, 2005). Thực chất cạnh tranh là sự tranh giành lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia vào thị trường với tham vọng “mua rẻ-bán đắt”. Cạnh tranh là một phương thức vận động của thị trường và quy luật cạnh tranh là một trong những quy luật quan trọng 6 nhất chi phối sự hoạt động của thị trường. Sở dĩ như vậy vì đối tượng tham gia vào thị trường là bên mua và bên bán.
Đối với bên mua mục đích là tối đa hoá lợi ích của những hàng hoá mà họ mua được còn với bên bán thì ngược lại phải làm sao để tối đa hoá lợi nhuận trong những tình huống cụ thể của thị trường. Như vậy trong cơ chế thị trường tối đa hoá lợi nhuận đối với các doanh nghiệp là mục tiêu quan trọng và điển hình nhất. Vai trò của cạnh tranh Đối với doanh nghiệp Đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có những vai trò sau: + Cạnh tranh được coi như là cái sàng để lựa chọn và đào thải những doanh nghiệp. Vì vậy nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò cực kỳ to lớn.
+ Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. + Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường để xác định được nhu cầu thị trường từ đó ra các quyết định sản xuất kinh doanh để đáp ứng các nhu cầu đó. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải nâng cao các hoạt động dịch vụ cũng như tăng cường công tác quảng cáo, khuyến mãi, bảo hành.
+ Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn để đáp ứng được nhu cầu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân. từ đó làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn. Đối với người tiêu dùng 7 Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày càng đẹp, phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng trong xã hội.
Vì vậy, đối với người tiêu dùng, cạnh tranh có các vai trò sau: + Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình. + Những lợi ích mà họ thu được từ hàng hoá ngày càng được nâng cao, thoả mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ các dịch vụ kèm theo được quan tâm nhiều hơn. Đó chính là những lợi ích mà người tiêu dùng có được từ việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Đối với nền kinh tế Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau: + Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xoá bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh.
+ Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng xâu sắc. + Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và phát triển nền kinh tế. + Cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho doanh nghiệp vươn ra thị trường nước ngoài. + Cạnh tranh giúp cho nền kinh tế có nhìn nhận đúng hơn về kinh tế thị trường, rút ra được những bài học thực tiễn bổ sung vào lý luận kinh tế thị trường của nước ta.
Bên cạnh những tác dụng tích cực, cạnh tranh cũng làm xuất hiện những hiện tượng tiêu cực như làm hàng giả, buôn lậu trốn thuế… gây nên sự bất ổn trên thị trường, làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước và của người tiêu dùng. 8 Phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của cạnh tranh không chỉ là nhiệm vụ của nhà nước, doanh nghiệp mà là nhiệm vụ chung của toàn bộ cá nhân. Lý thuyết cạnh tranh theo hƣớng tiếp cận truyền thống và tiếp cận mới 2. Lý thuyết cạnh tranh theo hướng truyền thống Lý thuyết cạnh tranh theo tiếp cận truyền thống dựa trên lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển (Neoclassical Theory).
Đây là cách tiếp cận mà cạnh tranh được tiếp cận ở dạng tĩnh (Static Approach) với 04 dạng cấu trúc chính: cạnh tranh hoàn hảo (Perfect competition), cạnh tranh độc quyền (Monopolist competition) và độc quyền nhóm (Oligopoly). Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà không có cá nhân nhà cung cấp nào tác động đáng kể lên giá cả thị trường sản phẩm (Frank-Bernanke, 2004). Cạnh tranh độc quyền là hình thức cạnh tranh trong đó nhiều nhà sản xuất bán sản phẩm được phân biệt với nhau mà gần như thay thế sản phẩm khác (Frank- Bernanke, 2004). Độc quyền là chỉ một nhà cung cấp duy nhất sản xuất và gần như không có sản phẩm thay thế (Frank-Bernanke, 2004).
Độc quyền nhóm là hình thức mà một công ty sản xuất một sản phẩm mà chỉ có một vài đối thủ sản xuất sản phẩm thay thế (Frank-Bernanke, 2004). Lý thuyết cạnh tranh theo hướng tiếp cận mới Cạnh tranh theo hướng tiếp cận mới dựa trên lý thuyết cạnh tranh của trường phái Áo (Austrian School). Đây là cách tiếp cận mà cạnh tranh được tiếp cận ở dạng động (Dynamic Approach). Theo Heyek không có cạnh tranh nào trong lý thuyết tân cổ điển của cạnh tranh hoàn hảo mà cạnh tranh đơn giản là do hành vi ganh đua giữa các cá nhân và được xem là động lực để cố gắng đưa ra phương thức tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh của mình.
Lý thuyết cạnh tranh động cho rằng kiến thức và thông tin không hoàn hảo và doanh nhân đóng vai trò trung tâm trong mô hình cạnh tranh động. Qúa trình 9 động được xem là quyết định của người tiêu dùng, doanh nghiệp và chủ sở hữu tài nguyên. Trong đó, doanh nhân là người tương tác giữa người tiêu dùng và người sở hữu nguồn lực nên quyết định của doanh nhân hướng đến tạo một sự phân bổ nguồn lực khan hiếm trong dài hạn. Đo lƣờng cạnh tranh theo hƣớng truyền thống và hƣớng tiếp cận mới 2.
Đo lường cạnh tranh theo hướng truyền thống Theo tiếp cận truyền thống chỉ số H được nhiều nghiên cứu ứng dụng (Yuan, 2006). Yuan (2006) sử dụng chỉ số H để nghiên cứu 15 ngân hàng thương mại lớn của Trung Quốc giai đoạn 1996-2000 và kết luận rằng các ngân hàng này gần như cạnh tranh hoàn hảo trước khi các ngân hàng nước ngoài gia nhập vào thị trường tài chính Trung Quốc. Fu (2009) cũng sử dụng chỉ số H của Rosse Panza để đánh giá cạnh tranh của ngân hàng thương mại Trung Quốc giai đoạn 1997-2006 với quy mô mẫu là 76 ngân hàng. Kết quả tìm thấy ngân hàng Trung Quốc cạnh tranh theo hình thức độc quyền.
Tuy nhiên cạnh tranh tăng cương hay suy giảm cụ thể theo từng năm phụ thuộc vào các nhân tố được đưa vào xem xét…Những phát hiện này là hợp lý khi muốn xác định điều kiện cạnh tranh trong 01 ngành ( cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh độc quyền, độc quyền).